Thứ Ba, ngày 23 tháng 8 năm 2016

CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VỚI CÁC GIÁM MỤC NGƯỜI VIỆT

by Hải An Phạm  |  at  8/23/2016 08:11:00 CH
Ôn cố tri tân là một điều không quá mới để người của ngày hôm nay hiểu tiền nhân của mình đã làm gì và làm như thế nào để gạn ra, giữ lại những cái hay, cái tinh túy. Thời gian gần đây blog Việt nam mới đã có rất nhiều bài vở xung quanh chuyện ứng xử của hàng ngũ chức sắc đạo Công giáo nói chung, trong đó có những đáng chủ chăn cao nhất các Giáo phận (Giám mục Giáo phận). Có người đã làm tốt, có người làm chưa tốt và có cả những người cố tình làm trái, xem Giáo hội, giáo dân của mình như những vật thí nghiệm! Dẫn bài "Cách mạng Tháng Tám với các giám mục người Việt" của tác giả Phạm Huy Thông về đây, mong sẽ làm rõ hơn về những điều mà một thế hệ Giám mục Việt Nam đã làm được cho cách mạng. Cũng hi vọng rằng, những vị Giám mục chưa nên, chưa phải của ngày hôm nay soi xét và thấy được điều mình cần làm! 

Trân trọng. 
Trong lịch sử nước ta, có lẽ không có biến cố nào gây ảnh hưởng lớn tới người Công giáo Việt Nam như cuộc Cách mạng tháng Tám 1945. Truyền thống yêu nước cùng với nỗi tủi nhục của người tín hữu dưới ách thống trị của thực dân Pháp cũng như sự cai quản bất bình đẳng của các giáo sĩ nước ngoài đã làm cho đa số người Công giáo Việt Nam nhất tề đứng lên theo cách mạng. Nhà báo người Pháp Jean R. Clementin nhận xét: “Điều làm cho các giáo sĩ ngạc nhiên và lo lắng chính là sự mất lòng tin, nếu như không muốn nói là sự căm thù của nhân dân Việt Nam với Pháp mà các giáo sĩ đều cảm thấy. Tiếp đó, điều làm cho hàng giáo phẩm xao xuyến hơn cả là đám con chiên Việt Nam, đứng đầu là các linh mục, tu sĩ đã chuyển sang phía cách mạng”(1). Nhưng không chỉ có giáo dân, linh mục, tu sĩ mà ngay cả những giám mục đầu tiên là người Việt cũng có tinh thần ủng hộ độc lập dân tộc.

Chúng ta biết rằng, sau 400 năm truyền giáo ở Việt Nam, mãi đến năm 1933 mới có người Việt đầu tiên là linh mục Nguyễn Bá Tòng được nâng lên hàng giám mục. Đến ngày Việt Nam tuyên bố độc lập (2-9-1945), ở nước ta có 5 giám mục người Việt, tuy nhiên giám mục Phan Đình Phùng đã mất năm 1940, nên chỉ còn lại 4 là các giám mục Nguyến Bá Tòng, Hồ Ngọc Cẩn, Ngô Đình Thục và Lê Hữu Từ. Cũng còn nhiều điều chưa được làm sáng tỏ trong cuộc đời của các vị giám mục này nhưng có thể khẳng định: các giám mục người Việt tiên khởi này đều có tinh thần dân tộc, tha thiết với độc lập tự do của dân tộc ngay từ những ngày đầu cách mạng.

Minh chứng đầu tiên là ngay sau khi Hồ Chủ Tịch đọc bản Tuyên ngôn độc lập, nước Việt Nam mới đứng trước nguy cơ đe dọa của các thế lực trong ngoài, nền độc lập non trẻ của nước nhà rất cần sự ủng hộ của dư luận quốc tế. Các giám mục Việt Nam đã có sáng kiến cùng ký tên vào hai bức điện văn gửi Tòa thánh Vatican và cộng đồng Công giáo thế giới đề nghị ủng hộ và công nhận chính phủ Việt Nam do Hồ Chí Minh đứng đầu. Lời văn rất cảm động và tràn đầy tinh thần dân tộc:

“Nhân dân Việt Nam yêu quý của chúng con muốn nhờ trung gian 4 vị giám mục của họ, dâng lên Đức Thánh cha lòng tôn kính sâu xa và xin Đức Thánh cha ban phúc lành, tỏ lòng rộng lượng và cầu nguyện cho nền độc lập mà nhân dân chúng con mới giành được và quyết tâm bảo vệ bằng mọi giá. Chính phủ chúng con cũng đã ra một nghị quyết tốt đẹp và nhân ái chọn ngày Quốc khánh cho cả nước trùng với lễ kính các vị tử đạo Việt Nam mà Tòa thánh mới cho phép mựng vào chủ nhật đầu tháng 9. Toàn thể nhân dân Việt Nam không phân biệt tôn giáo mừng lễ này với một tinh thần yêu nước chân thành và nồng nhiệt chưa từng có, với những cuộc biểu tình to lớn và náo nức tỏ ra cho thấy toàn dân quyết tâm bảo vệ chính quyền của mình, dẫu có phải đổ máu…

Đứng trước những biến cố hết sức xúc động như thế này và bản thân chúng con cảm động tận đáy lòng, vì ý thức bổn phận thiêng liêng với Tổ quốc chúng con, các giám mục người Việt Nam, chúng con nài xin Đức Thánh cha, Tòa thánh Roma, các Đức Hồng y, các Đức Tổng giám mục, giám mục và toàn thể anh chị em Công giáo khắp thế giới và đặc biệt là Công giáo Pháp hỗ trợ cho việc quyết định của Tổ quốc yêu quý của chúng con”(2).

Điện văn gửi cộng đồng Công giáo thế giới cũng đầy tâm tư, nhiệt huyết: “Trong lúc hòa bình đã được vãn hồi trên toàn thế giới, lẽ ra chúng tôi cũng phải được cùng bao dân tộc khác hàn gắn các đổ nát do chiến tranh tàn phá gây ra, thay vì tiếp tục dồn thêm đổ nát. Chúng tôi phải chịu ảnh hưởng không sao tránh khỏi của cuộc chiến tranh vừa qua, đã tàn phá và xáo trộn tất cả. Chúng tôi phải chịu một nạn đói khủng khiếp làm chết đi nhiều đồng bào và một nạn đói mới có thể còn khủng khiếp hơn nạn trước xảy ra.

Hỡi anh chị em Công giáo thế giới, hãy đến trợ giúp cho các miền giáo phận phồn thịnh đức tin của Việt Nam. Hãy đến viện trợ cho Tổ quốc thân yêu của chúng tôi đã từng cống hiến cho anh chị em 90.000 vị chứng nhân đạo thánh và còn hứa hẹn nhiều mùa gặt to lớn hơn. Hỡi nhân dân các nước Anh và nước Mỹ, hãy cho chúng tôi sự can thiệp có ích lợi, khiến chúng tôi thoát khỏi cảnh rùng rợn của chiến tranh, trong khi tất cả thế giới đã được hưởng thái bình”(3).

Các điện văn trên có tiếng vang lớn trên trường quốc tế bấy giờ và là sự kiện độc nhất vô nhị trong lịch sử của giáo hội Việt Nam. Nó đã góp một đòn chí mạng làm phá sản âm mưu của thực dân Pháp hòng đưa một cựu tu sĩ là Thiery D’Argenlieu sang làm Cao ủy Pháp ở Đông Dương để lôi kéo người Công giáo rời xa kháng chiến.

Người có sáng kiến khởi thảo 2 điện văn nói trên chính là giám mục Phát Diệm Nguyễn Bá Tòng. Vị giám mục tiên khởi này khi còn ở chủng viện Vĩnh Long cũng đã luôn có khao khát “làm rạng rỡ danh còn cháu Lạc Hồng”:

Phước trùng nghinh cháu Lạc con Hồng

Ứng ánh hào quang chiếu Viễn Đông

Triệu ứng tiên khai đà vững chắc

Thì cơ hội tấn ắt nên công…

Cũng vì bài phú có tinh thần dân tộc này mà thầy Tòng bị phạt lùi việc lên chức linh mục đến 5 năm.

Giám mục Hồ Ngọc Cẩn là một học giả xuất sắc trên nhiều lĩnh vực như văn chương, thần học, giáo huấn, báo chí và nhất là lòng yêu nước. Nhiều người xúc động nhắc lại lời phát biểu của vị giám mục này trong lễ mít tinh của Tuần lễ vàng, quyên tiền ủng hộ Chính phủ kháng chiến: “Tôi có mấy nhời thay mặt cả hàng giáo sĩ cảm ơn Ủy ban đã có lời mời chúng tôi đến dự Tuần lễ vàng này. Thật như bài diễn văn chúng tôi ai nấy vừa nghe. Ai là người có vàng lúc này không nên ẩn giấu, phải đưa ra để chung nhau đắp nền độc lập cho Tổ quốc… Phần tôi khi thụ phong giám mục, có một đấng biếu tôi Thánh giá này và dây đeo thực là vàng. Nhưng tôi nghĩ, người đời trên có giời che, dưới có đất chở. Trên phải phụng sự Thiên Chúa, dưới cũng không quên Tổ quốc. Vậy trong lúc này, tôi cũng vui lòng chia của quý này làm hai. Thánh giá tôi giữ lấy để phụng sự Thiên Chúa, dây đeo tôi để phụng sự quốc gia”(4).

Nhiều người dự lễ tấn phong giám mục Phát Diệm ngày 28-10-1945 vẫn còn nhớ bài diễn văn ngẫu hứng nhưng tràn đầy tinh thần dân tộc của vị giám mục Bùi Chu: “Cho tới nay, nước Việt Nam đã có 4 người được phong giám mục. Điều lý thú là mỗi người đều mang họ một anh hùng dân tộc. Đức cha Nguyễn Bá Tòng mang họ vị anh hùng Nguyễn Huệ. Kế đến Đức cha Ngô Đình Thục mang họ Ngô Quyền. Hôm nay Đức cha Lê Hữu Từ mang họ Lê Lợi. Còn tôi mang họ… Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5).

Cảm kích trước tấm lòng của vị giám mục này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời giám mục ra làm cố vấn cho Chính phủ năm 1945 và khi giám mục qua đời ngày 27-11-1948, dù rất bận công việc kháng chiến, Hồ Chủ tịch vẫn gửi điện văn cho giáo phận Bùi Chu: “Tôi rất lấy làm đau đớn được tin Đức giám mục Hồ Ngọc Cẩn đã từ trần. Tiếc rằng vì chiến sự, tôi không thể về dự đám tang của Đức giám mục, tôi nhờ Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu III thay mặt tôi đến dự lễ và chia buồn cùng đồng bào Công giáo địa phận Bùi Chu”(6).

Giám mục Lê Hữu Từ cũng là người có tinh thần dân tộc. Bởi không lẽ, Hồ Chí Minh mời vị giám mục này làm cố vấn cho mình từ ngày 20-1-1946 và nhiều lần gọi là “người bạn thân thiết”, “người bạn quý mến”… chỉ vì vấn đề sách lược? Chúng ta biết trong lễ tấn phong, vị giám mục này chỉ mời các giám mục Việt Nam. Khi giám mục Ngô Đình Thục bị kẹt do mật thám Pháp cản trở không ra được để làm để làm phụ phong, giám mục người Tây Ban Nha là F. Gomez đang coi sóc Hải Phòng xin được thay thế nhưng vị tân giám mục này đã từ chối trong khi chấp nhận sự hiện diện của phái đoàn chính phủ Việt Minh được Hồ Chí Minh cử đến là các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và cựu hoàng đế Bảo Đại. Một thời gian dài, vị giám mục này thường thư từ qua lại và hội kiến với Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần. Ông cũng cộng tác với chính phủ cử 1 linh mục đi úy lạo đồng bào miền Nam Trung bộ đầu năm 1949 hay huy động giáo dân phá cầu Trì Chính để ngăn bước tiến của quân Pháp năm 1949. Trong Thư chung ngày 23-3-1947, vị giám mục này kêu gọi giáo dân cảnh giác và đoàn kết chống Pháp: “Các cho biết rằng, một vài người cộng tác của chúng ta và nhiều giáo dân đã bị bắt và giam giữ nhiều ngày, vì họ bị nghi ngờ là đảng viên của các đảng phái chống chính phủ. Nhiều người bị bắt do ông Huệ, một thầy giảng của địa phận Thanh Hóa ẩn núp trong địa phận chúng ta, tung ra những tin đồn lung tung và thậm chí mạo danh tôi để đánh lừa dân chúng. Các cha đừng để nó tự do qua lại trong các họ đạo của mình và nếu phát hiện thì hãy bắt và nạp giải cho tôi. Kẻ nào tiếp tục liên hệ với ông ấy, hoặc che giấu, thì đừng phân bua rằng mình vô tội khi bị cảnh sát làm khó dễ. Hơn bao giờ hết, toàn dân phải một lòng đoàn kết, chiến đấu chống lại bọn xâm lược. Hãy để vấn đề đảng phái sang một bên, đừng bận tâm tới. Tôi đã nói đi nói lại nhiều lần với các cha, lần này nữa, tôi xin các cha hãy nghe lời tôi”(7).

Trong thư đề ngày 25-1-1949, giám mục Lê Hữu Từ cũng lên án tội ác của thực dân Pháp: “Quân lính Pháp, với một sự dã man tột độ, đã phá hủy tất cả, không trừ một thứ gì, kể cả nhà thờ. Trong vòng 1 năm, gần 300 nhà thờ đã bị bom đánh phá”(8). Vì vậy giám mục này đã bị Pháp xếp vào loại “có đầu óc quốc gia hơn hết” và là “linh hồn của cuộc kháng chiến chống Pháp” (âme de loppotion à la France)(9). Thực dân Pháp đã dùng nhiều thủ đoạn như tung tin chia rẽ vị giám mục này với kháng chiến. Trong Thư chung ngày 20-10-1949, giám mục này viết: “Theo hãng thông tấn AFP, cuộc hành quân của Pháp được tiến hành vì có lời yêu cầu của tôi gửi cho chính phủ Bảo Đại, lời yêu cầu có lý do: một đàng bởi những rắc rối tôi đã gặp nơi chính phủ Hồ Chí Minh và đàng khác bởi sắc lệnh mới của Vatican nói về cộng sản. Điều đó hoàn toàn trái sự thật. Tôi không bao giờ có ý nghĩ xin bọn lính Pháp can thiệp để cứu chúng tôi khỏi một sự khó khăn bất kỳ nào. Tôi chưa hề có quan hệ với chính phủ Bảo Đại… Vì vậy, tôi khẳng định với anh em một lần nữa: trước mặt Thiên Chúa, tôi chưa bao giờ nói hoặc làm một việc gì có thể coi như kêu gọi sự can thiệp của Pháp. Tất cả những thứ đó hoàn toàn ngoài ý muốn của tôi”(10).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần trao đổi những điều cơ mật của kháng chiến với vị giám mục này và cùng đưa ra những giải pháp để tháo gỡ những vụ việc rắc rối nảy sinh. Ví dụ bức thư ngày 23-3-1947, Hồ Chủ tịch viết: “Một đàng, chúng ta phải giải thích cho người Công giáo hiểu rõ chủ trương chính sách của chính phủ như Đức cha đang làm. Đàng khác cần giáo dục cán bộ của chính phủ như bản thân tôi đang làm. như vậy bọn gây rối sẽ không còn có thể chia rẽ chúng ta và sự đoàn kết toàn dân sẽ được thực hiện”(11).

Bối cảnh lịch sử lúc đó rất phức tạp và chuyện trăn trở của người Công giáo trước một sự lựa chọn khắc nghiệt: theo kháng chiến thì bỏ đạo và theo đạo thì chống lại dân tộc. Giám mục Bùi Tuần đã nói rõ tâm tư này: “Một đàng độc lập và hòa hợp dân tộc luôn là lí tưởng tôi khao khát. Một đàng chống cộng lại là mệnh lệnh của Bề trên trong đạo mà tôi phải vâng. Khó khăn lớn nhất là ở chỗ: thời điểm giành độc lập và xây dựng đoàn kết chống ngoại xâm lại do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Có những lúc lương tâm tôi cảm thấy diễn ra xung đột gay gắt. Xung đột có chiều sâu thăm thẳm và chiều rộng mênh mông. Xung đột lại kéo dài từ năm này qua năm khác. Vì thế xin thú thật là quá khứ của tôi trong quá khứ dân tộc có nhiều nỗi đau nặng nề và đau đớn riêng khó tả”(12).

Cho nên sự chuyển hướng của giám mục Lê Hữu Từ xa rời cuộc kháng chiến là kết quả của quá trình diễn biến phức tạp. Nó là sự đối đầu loại trừ nhau của vấn đề ý thức hệ mà cả đạo và đời lúc này chưa dễ vượt qua và thực dân Pháp đã tích cực khai thác mâu thuẫn này. Có thể thấy rõ qua câu nói của vị giám mục này với Chủ tịch Hồ Chí Minh khi gặp nhau ở Phát Diệm đầu năm 1946: Tôi và dân Công giáo Phát Diệm đoàn kết và triệt để ủng hộ Cụ trong công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành độc lập tự do cho Tổ quốc nhưng nếu Cụ là cộng sản thì tôi chống Cụ từ giờ phút này.

Giám mục Ngô Đình Thục coi sóc địa phận Vĩnh Long, nơi có phong trào Việt Minh hoạt động mạnh nên cũng bị Pháp liệt vào hàng ngũ “thân cộng”. Vị giám mục này cũng công khai nói lên nguyện vọng của mình: “Như tất cả đồng bào, tôi muốn cho quê hương độc lập nhưng bằng những phương tiện hòa bình. Tôi tiếc là đã có những cuộc đổ máu và những cuộc tàn sát như đã xảy ra hôm qua ở Biên Hòa khi có 1 quả lựu đạn nổ. Người Anh đã bắn không phân biệt vào chợ làm 40 người chết trong đó có nhiều phụ nữ. Tôi biết là nếu có 10 người Pháp bị giết thì sẽ có 10.000 người Việt là nạn nhân”(13). Mật thám Pháp cũng coi giám mục Thục thuộc nhóm chống đối như linh mục – liệt sĩ Nguyễn Bá Luật. Cuối năm 1945, khi ông định ra dự lễ tấn phong giám mục Phát Diệm thì bị bí mật cầm chân ở Chợ Lớn theo lệnh của Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Ông tìm cách trốn về Vĩnh Long, an ninh Pháp rất tức giận nói: “Thái độ của Đức cha Thục thật tồi tệ, sau khi đã bỏ Biên Hòa về Chợ Lớn, lấy tàu đi Mỹ Tho và từ đó lén lút về Cái Nhum, trụ sở của một chủng viện, một tu viện và một họ đạo của tỉnh Vĩnh Long, cách họ đạo Cái Mơn (Bến Tre) chỉ có mấy cây số… Vị giám mục này hình như có ý định ở lại Cái Mơn, một họ đạo xem ra bị đe dọa bởi những quá đáng của Việt Minh, để chia sẻ số phận với các giáo hữu của mình”(14).

Thực dân Pháp đã dùng bộ máy tuyên truyền để chia rẽ người Công giáo và kháng chiến. Chúng nói rằng Việt Minh là cộng sản và cộng sản thì vô thần nên sẽ tiêu giệt mọi tôn giáo, trong đó có Công giáo, nhưng giám mục Hoàng Văn Đoàn ở Bắc Ninh đã quả quyết: “Tôi tin tưởng rằng không có chuyện cấm đạo và không phải chết vì tôi biết Chủ tịch Hồ Chí Minh quảng đại, sáng suốt và chính phủ nhân dân biết nhìn xa trông rộng, hiểu rõ ràng: người Công giáo chân chính vốn yêu Tổ quốc và vâng phục chính quyền, nên việc cấm đạo chỉ là những chuyện của nhà cầm quyền cạn xét, nông suy, không biết đạo là chi. Bởi vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố quyền tự do tín ngưỡng của người công dân Việt Nam”(15).

Tóm lại, chính tinh thần của Cách mạng tháng Tám đã thổi bùng lên ngọn lửa yêu nước của người Công giáo Việt Nam, trong đó có cả những giám mục người Việt và lôi cuốn họ đi với dân tộc. Không phải tất cả mọi người đều đồng hành hết chặng đường với đất nước nhưng nó đã khởi đầu cho một trang sử mới của người Công giáo Việt Nam được xác định qua tuyên ngôn của các giám mục Việt Nam cách đây đúng 30 năm (tháng 5-1980) là: “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

CHÚ THÍCH:

(1) Vấn đề phong thánh tử đạo và lịch sử dân tộc Việt Nam, Nxb TP. HCM 1988, tr.244.

(2), (4),(5),(6),(11),(15) Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công giáo (Huy thông tuyển chọn và giới thiệu), Nxb CTQG, Hà Nội 2004, tr.346, tr.295, tr.297, tr.109, tr.81 và tr.308-309.

(3),(7),(8) Trần Tam Tỉnh, Thập giá và lưỡi gươm, Nxb Trẻ, TP. HCM 1988, tr.63, tr.75-76, tr.84.

(9),(13),(14) Huy Thông. Con đường đồng hành cùng dân tộc cần được đắp xây bằng sự chung tay của cả cộng đồng, Nguyện san Công giáo và dân tộc số 122 năm 2005, tr.10, tr.9.

(10) Nguyễn Thế Thoại, Giáo hội đi trong nhân loại, Lưu hành nội bộ, 1995, tr.387.

(12) GM Bùi Tuần, Vài vấn đề trong mục vụ tại Việt Nam hôm nay, Báo Công giáo và dân tộc số 1534 ngày 24-11-2005.

Nguồn: Xưa và Nay

ĐÔI LỜI VỚI GIÁO SƯ CỐNG! (Tiếp theo và hết)

by Hải An Phạm  |  at  8/23/2016 06:06:00 CH

2. Nguyễn Đình Cống lại vịn vào "nhiều nhà nghiên cứu" chung chung mà không đưa ra họ tên cụ thể nhà nghiên cứu nào để tru tréo rằng: "trước đó mấy tháng nước VN đã độc lập, đã thoát khỏi ách cai trị của thực dân Pháp. Mặc dầu lúc đó trên lãnh thổ còn có quân Nhật, nhưng Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa" chứ không phải ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập. VM cho rằng đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, có ý nghĩa lịch sử trọng đại sau gần một thế kỷ đất nước bị đô hộ. 

GS. Cống ngày càng lún sâu vào vũng lầy, tự mình đánh mất hình ảnh chính mình trước thế hệ trẻ bởi những phát ngôn lệch lạc, vu khống, đầy sai trái và luôn thù hằn, độc địa, chống phá chính trị, chế độ (Nguồn: Internet)

Về luận điểm này, đồng tình với GS. Cống rằng, trước ngày 19/8 khi CM tháng 8 nổ ra, Thực dân Pháp không còn cai trị nhân dân VN. Dĩ nhiên rồi, bởi, thời gian này, Phát xít Nhật đang hùng mạnh, trận Trân Châu Cảng chưa xảy ra, quân phát xít đang giữ thế thượng phong so với quân của phe Đồng Minh. Vậy nên, quân Nhật đã hất cẳng quân Pháp tại Đông Dương nói chung và tại Việt Nam nói riêng để tiến hành khai thác, bắt bớ dân đi lính làm bia đỡ đạn ngoài chiến trường cho chúng, bắt dân nhổ lúa trồng đay, làm đường...để phục vụ sức người, sức của cho phát xít Nhật ở chiến trường. Mặc dù bị hất cẳng nhưng số tàn quân Pháp ở lại VN không dám công khai khống chế chính quyền các cấp, đàn áp và trấn lột nhân dân VN mà chỉ dám làm sau lưng quân Nhật. 

Tiếp đó, GS. Cống nói rằng, "Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa" thì những tội ác về bắt bớ, trấn áp, hà hiếp, cướp bóc nhân dân Việt Nam trong thời gian 1940-1945, khiến cho nạn đói khủng khiếp xảy ra ở miền Bắc năm 1945-1946, hơn 2 triệu người chết đói vì chính sách hà khắc bắt nhổ lúa trồng đay, bắt người đi lính làm bia đỡ đạn ngoài chiến trường...

Nếu nói như ông ta thì "Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa" thì tại sao nhân dân VN lại phải chịu những chính sách hà khắc trên? Tại sao lại xảy ra nạn đói hơn 2 triệu người dân vô tội miền Bắc đã chết? Nhật không đặt chế độ cai trị, Nhật không xem VN là thuộc địa thì phát xít Nhật tốn công sức, tiền của, súng ống để áp lực lên Thực dân Pháp hòng chiếm Đông Dương nói chung và VN nói riêng? Có lẽ, không bao giờ ngờ được, với một người mang hàm học vị Giáo sư, tuổi tác cũng đã cao lại có thể nhận thức và phát biểu về một sự kiện lịch sử của dân tộc với lời lẽ lệch lạc, phiến diện, sai trái như trên. 

3. Nguyễn Đình Cống nói rằng, Việt Minh "đã nhận nhiều viện trợ" của Mỹ và Mỹ là một nước "ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, đặc biệt là thuộc địa của Pháp". Ý thức nhất, xin thưa với GS. Cống rằng, chính Mỹ đứng đằng sau nuôi dưỡng Ngô Đình Diệm và xúi giục anh em họ Ngô dựng lên chế độ Việt Nam cộng hòa - chế độ tay sai của Mỹ để Mỹ làm bàn đạp, hất cẳng Pháp và lật đổ chế độ tay sai, thân Pháp - Trần Trọng Kim và Bảo Đại nhằm chiếm VN, biến VN thành "sân sau" của Mỹ. Rõ ràng, Việt Minh là cái gai trong mắt của Mỹ - một quốc gia phát triển theo con đường tư bản, Mỹ luôn tìm cách tiêu diệt Việt Minh còn chưa đạt, huống gì VM được "nhận nhiều viện trợ" của Mỹ! Sống đã gần trọn một đời người nhưng có lẽ rằng, GS. Cống vẫn chưa thoát được sự ảo tưởng về một "thiên đường" mang tên Mỹ!

Ý thứ hai, tôi không phủ nhận rằng, Mỹ luôn "ủng hộ việc giải phóng thuộc địa, đặc biệt là thuộc địa của Pháp", vì điều này đúng. Song, mục đích ẩn đằng sau hành động tưởng chừng như tốt đẹp này của Mỹ là gì? Mỹ ủng hộ giải phóng thuộc địa của Pháp để những thuộc địa đó, rơi vào tay Mỹ, Mỹ sẽ biến những thuộc địa đó thành thị trường tiêu thụ, là nơi mà Mỹ sẽ tiến hành các cuộc khai thác, bóc lột theo Thực dân kiểu mới mà tham vọng bá chủ toàn cầu của Mỹ có từ trước đó. 

Cuối cùng, tôi xin khẳng định rằng, không một Đảng, tổ chức chính trị, cá nhân lãnh đạo, một thể chế chính trị, một chế độ nào trên thế giời này mà không có những thiếu sót, những khuyết điểm. Nếu thực sự là công dân yêu nước, có ý thức cống hiến, giúp đất nước thì ngoài việc cống hiến hết sức mình, nên góp ý thẳng thắn, trên tinh thần xây dựng những gì chưa làm được, những thiếu sót, khuyết điểm đang tồn tại để đất nước đi lên. Chứ không phải là hành động hèn hạ, suốt ngày đi soi mói, "vạch lá tìm sâu" để móc ngoáy, xóc xỉa và cố tìm cách chống phá nó. Thế hệ cha ông ta đã ngã xuống để bảo vệ nền độc lập, tự do, bầu trời hòa bình cho dân tộc thì thế hệ con cháu phải biết trân trọng, tự hào và gìn giữ nó! Hành động xuyên tạc, bịa đặt về lịch sử, vu khống những thế hệ đi trước với giọng điệu phủ nhận sạch trơn những giá trị của cha ông để lại như GS. Nguyễn Đình Cống là hành động "ăn cháo đá bát", hèn hạ, đi ngược lại với truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "ăn quả nhớ kẻ trồng cây" của người Việt. 

An Chiến

CHUYỆN BỨC TƯỢNG ĐỨC MẸ KHÓC RA MÁU TẠI BOLIVIA: CÓ NÊN CỨU VÃN ĐỨC TIN BẰNG NHỮNG ĐIỀU HUYỄN HOẶC THẾ NÀY?

by Hải An Phạm  |  at  8/23/2016 02:59:00 CH
Trang tin Công giáo (Conggiao.info) đã đăng tải thông tin với tiêu đề: "Bức tượng Đức mẹ khóc ra máu suốt hơn 1 tuần qua". Toàn văn thông tin như sau: 

"Điều kỳ lạ là những dòng nước chảy ra từ khóe mắt của bức tượng Đức Mẹ lại có màu đỏ tựa như máu và chưa có dấu hiệu ngừng lại.

Tưởng chừng như vô tri vô giác nên khi bức tượng Đức mẹ Mary tại một nhà thờ nhỏ xa xôi ở Bolivia xuất hiện những giọt nước màu đỏ tựa như máu trên khóe mắt, những con chiên đã không thể không tin vào điều kỳ diệu ẩn chứa phía sau hiện tượng kỳ lạ này. Tất cả họ đều tin rằng, đây là một hiện tượng không thể lý giải được bằng khoa học.

Được biết, người nhìn thấy hiện tượng này đầu tiên là một người dân địa phương. Sau khi chụp ảnh bức tượng lại, người này đã đăng tải lên mạng xã hội để chia sẻ.

Thầy tu Jose Luis Mamani, quản lý nhà thờ cũng xác nhận, độ hơn 1 tuần nay, tượng Đức mẹ Đồng trinh bắt đầu có hiện tượng chảy máu. Dòng nước đỏ chảy từ khóe mắt xuống gò má rồi đến đôi bàn tay vẫn chưa có dấu hiệu chấm dứt. Thầy Mamani cũng cho biết thêm, nhà thờ được xây cách đây 10 năm trong khu định cư Puerto Rico ở Trung tâm bảo tồn động vật hoang dã quốc gia Manuripi-Heath thuộc khu hành chính Pando nước này.

Để kiểm chứng xem dung dịch màu đỏ kỳ lạ đó có phải là máu người hay không, ban quản lý nhà thờ đã đem tới bệnh viện địa phương để xét nghiệm. Hiện vẫn chưa rõ câu chuyện tượng Đức mẹ khóc ra máu có phải là một hiện tượng tâm linh kỳ bí hay không nhưng chỉ biết trong vô số những tin đồn do người dân huyễn hoặc lên có rất ít trường hợp được những người đứng đầu Giáo hội công nhận là có thật". 

Thông tin này nhanh chóng được một số chức sắc đạo Công giáo dẫn về trên trang cá nhân của mình và lan truyền cho đông đảo người Công giáo đọc. Linh mục Antôn Nguyễn Văn Đính, Quản hạt kiêm quản xứ Thuận Nghĩa (Quỳnh Lưu, Nghệ An), Trưởng ban Công lý & Hòa bình Giáo phận Vinh là một trong số những chức sắc như thế. Linh mục Đính cũng là người mà cách đây không lâu đã ký Văn thư thông báo về ngày "Môi trường Giáo phận Vinh" (7/8/2016) kéo theo hàng chục cuộc tuần hành, biểu tình lớn nhỏ tại một số xứ, họ đạo thuộc giáo phận Vinh.

Ở đây sẽ không quá khó để hiểu dụng ý của việc lan truyền những thông tin kiểu như thế này. Vấn đề suy giảm về mặt đức tin đang khiến cho nhiều tôn giáo, trong đó có đạo Công giáo đang bất chấp mọi thứ để cứu vãn lại những gì đã từng có! Từ sự nhận diện tính mục đích hành động này, người viết xin được nói đôi điều như sau: 

Trước hết, xin khẳng định luôn đây không phải là lần đầu tiên (dù ở Việt Nam hay Bolivia) các câu chuyện có nội dung thế này xuất hiện. Theo đó, cũng như thời điểm sơ khai, đầu tiên khi các tôn giáo vừa chính thức hình thành, những người khai sáng các tôn giáo đã thêu dệt, lan truyền về những câu chuyện hết sức huyền bí, rất khó lí giải bằng những hiểu biết hay kinh nghiệm của con người ở chính thời điểm đó. Và nhân cái sự bế tắc đó, những nhà khai sáng đã lấy đó làm cứu cánh nhân sinh, làm cho sản phẩm do mình tạo nên có những sức mạnh siêu nhiên, khó lí giải và thu hút sự quan tâm, hiếu kỳ và tin theo của những người mà sau này chính là tín hữu của chính tôn giáo đó. 

Cũng như những lí do khiến nhiều tôn giáo hiện đang đồng hành cùng thế giới loài người, chúng ta không phủ nhận, thậm chí là công nhận những giá trị hết đỗi tích cực, hướng thiện của các tôn giáo. Có được điều đó cũng chính bởi hầu hết các tôn giáo có một hệ thống giáo lý, giáo luật hết sức căn bản, nhân văn. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây với các tôn giáo nói chung, đối với đạo Công giáo nói riêng là có cần thiết phải tái hiện lại, tiếp tục dựng lại những câu chuyện huyền bí như thế khi mà chính các tôn giáo đã có một sự ổn định nhất định? Vấn đề đức tin không phải có mỗi phương cách đó để duy trì, thậm chí gia tăng nó trong đời sống tín đồ?

Có lẽ không phải đến tận hôm nay, giáo hội Công giáo mới đối diện với vấn nạn suy giảm đức tin, đức vâng lời từ một bộ phận tín đồ của mình. Song, chúng ta cần thống nhất nhận thức đây không phải là một vấn đề mang ý nghĩa tự thân mà nó là hệ quả có tính tất yếu của đường hướng phát triển, vận hành thiếu đúng đắn giáo hội trong một thời gian dài. Xin lấy những gì đã diễn ra tại Giáo phận Vinh làm ví dụ. 

Giáo phận Vinh cuối thời Giám mục Phaolo Maria Cao Đình Thuyên đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu rạn nứt vấn đề đức đức tin. Theo đó, xu hướng chia bè kết phái, mâu thuẫn trong nội bộ Giáo hội bắt đầu hình thành; một số chức sắc (Linh mục) đã phản ứng ra mặt khi bị động chạm quyền lợi, nhất là bị điều chuyển từ địa bàn mục vụ "bờ xôi ruộng mật" về những nơi đói kém, đời sống dân sinh nghèo nàn. Việc tham quyền, cố vị không chịu giới thiệu nhân sự Giám mục thay thế của Giám mục Phaolo Maria Cao Đình Thuyên đã khiến cho Giáo phận Vinh rơi vào một cuộc khủng hoảng đức tin mà đã gần 06 năm trôi qua dưới thời quản nhiệm của Giám mục Phaolo Nguyễn Thái Hợp vẫn chưa thể giải quyết được. Thậm chí, vấn đề khủng hoảng đức tin có chiều hướng trầm trọng hơn. 

Như người viết đã từng đề cập trong bài viết: "NGHĨ VỀ SỨ MỆNH "MỞ RỘNG NƯỚC CHÚA " CỦA GIÁO PHẬN VINH" đã đề cập khi nói về sự suy giảm đức tin dưới thời Giám mục Nguyễn Thái Hợp như sau: "Giáo phận Vinh chưa có ngày yên bình từ sau năm 2010, đó là điều mà bất cứ ai dù là con em địa phận Vinh hay những người tại vùng đất Nghệ - Tĩnh - Bình đều biết và thấu hiểu. Nhiều vụ mà tôi gọi là "đụng độ" giữa giáo hội và chính quyền đã xảy ra mà xin thưa rằng đến nay, hậu quả của nó vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để. Tình trạng có sự vênh giữa giáo hội Công giáo địa phận Vinh với chính quyền 03 tỉnh trong rất nhiều chính sách, việc làm cụ thể đang khiến cho cái không khí hợp tác, hiểu nhau dưới thời những vị chủ chăn trước đó như Giám mục Cao Đình Thuyên, Trần Xuân Hạp, Nguyễn Năng... mất đi một cách khó hiểu và chóng vánh! 

Và những ai chứng kiến những gì xảy ra gần đây, sau vụ cá chết tại một số tỉnh Miền Trung hẳn sẽ thấy rõ hơn những vấn đề nội tại mà địa phận Vinh đang gánh chịu. Cụ thể, chứng kiến việc một số chức sắc, giáo dân vẫn xuống đường tuần hành, biểu tình dù đây là nội dung không được khuyến khích trong Thư chung ngày 13/05/2016 hay trong Thông báo ngày Môi trường toàn địa phận của Ban Công lý & Hòa Bình Giáo phận Vinh (27/7/2016), dư luận đang đặt vấn đề có hay không chuyện suy giảm đức tin đang xảy ra trong đời sống của giáo dân nơi đây? Mối quan hệ với chính quyền chưa được cải thiện một cách tích cực (được biết đây cũng là vấn đề mà qua nhiều kênh thông tin khác nhau, Tòa thánh đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu Giám mục Nguyễn Thái Hợp phải cải thiện) cũng là vấn đề cần được suy nghĩ. 

Chưa hết, vấn đề mở rộng địa bàn ảnh hưởng ra các vùng đất mới cũng đang đặt Giáo phận Vinh phải không ngừng gia tăng đội ngũ chức sắc để coi sóc, mục vụ... Trong khi đó, việc tự ý đào tạo, chiêu sinh của Giáo phận đang vi phạm nghiêm trọng quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004....". 

Từ những điều được chỉ ra, để duy trì và củng cố đức tin giáo hội Công giáo nói chung không thể cứ mãi trông chờ vào những điều mà nó có thể bị bại lộ bất cứ lúc nào dưới ánh sáng của khoa học công nghệ hiện đại. Mà tốt hơn hết, để giải quyết một vấn nạn thì tốt hơn hết là giải quyết chính căn nguyên, gốc rễ gây nên vấn nạn đó. Đây cũng là thông điệp mà người viết muốn gửi đến những người có chức trách trong giáo hội Công giáo trong hành trình tìm lại chính mình! 

An Chiến

ĐÔI LỜI VỚI GIÁO SƯ CỐNG! (PHẦN I)

by Hải An Phạm  |  at  8/23/2016 12:55:00 CH
Bộ tóc, hàm râu đều dài và trắng mướt, làn da nhăn nheo, đôi mắt híp lại, tỏ ra những mỏi mệt khi đã gần U80 nhưng vẫn còn ham lắm những chuyện chính trị, GS. Nguyễn Đình Cống đang ngày càng tự mình đánh mất hình ảnh bao năm dày công xây dựng trước mắt thế hệ cùng lứa và thế hệ trẻ hiện nay. Bởi, lúc về già, không biết xuất phát từ nguyên nhân lú lẫn hay vì tư tưởng, lập trưởng không vững vàng, nhiều thứ như tiền bạc, sự ảo tưởng mua chuộc... đã biến một GS. Nguyễn Đình Cống từng là một nhà giáo lão thành, từng được nhiều thế hệ sinh viên ĐH Xây dựng và ĐH Bách khoa mến mộ là vậy, nay tan thành bọt biển.

Dường như không có gì để mất vì đến độ tuổi "thấp thập cổ lai hy", sau những phát ngôn xuyên tạc và vu khống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước bị nhiều người lên án, tẩy chay, ông đổ thêm dầu vào lửa bằng việc tuyên bố "xin ra khỏi Đảng" vào đầu năm 2016 vừa qua. Khách quan mà nói, đây là bước đi có chủ ý và ranh mãnh của ông ta, bởi lẽ, với những hoạt động "ăn cháo đá bát", khi còn đương chức thì ông ta cống hiến cho Đảng, Nhà nước và nhân dân nhưng khi về già, Nguyễn Đình Cống biến chất hoàn toàn như vậy thì việc bị Đảng Cộng sản Việt Nam tước quyền Đảng viên là lẽ đương nhiên (chỉ là thời điểm nào mà thôi). Vậy nên, ông ta khôn ngoan khi chủ động xin ra khỏi Đảng, vừa lập được thành tích với các thế lực phản động trong và ngoài nước và tránh mang tiếng bị Đảng sa thải. 

Chân dung GS. Nguyễn Đình Cống (Nguồn: Internet)

Thực ra, với độ tuổi cận kề U80 - độ tuổi mà giờ đoàn viên, vui vầy bên con cháu, bày dạy cho cháu con những điều hay lẽ phải, chứ không phải là ngồi lẩn thẩn trên bàn phím máy tính cho ra những "sản phẩm lỗi" là những bài viết mà khiến cho dư luận tẩy chay, thậm chí là chửi bới. Gần đây, trong khi cả nước đang chuẩn bị kỷ niệm 71 năm Cách mạng thành công (19/8/1945-19/8/2016) thì GS. Nguyễn Đình Cống đã có bài viết với tiêu đề "Vài đánh giá nhầm trong Cách mạng Tháng 8" sặc mùi chống phá, xuyên tạc và thêu dệt sự thật về sự kiện vẻ vang này của dân tộc. Hài hước hơn, ông ta còn muốn một tay "viết lại lịch sử" khi tôn cờ "quẻ ly", nói rằng, TD Pháp và phát xít Nhật đã giải giáp, Trần Trọng Kim và vua Bảo Đại là những người "yêu nước" chứ không phải "bán nước"

1. Nguyễn Đình Cống vịn vào bằng chứng "theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia" rằng, chính "Tuyên bố VN độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở pháp lý (...) có tinh thần dân tộc mạnh và đã làm được nhiều điều có ích lợi cho dân tộc". Ông ta nói rằng, trong thời gian diễn ra CM tháng 8, Việt Minh "không hề đánh một đơn vị Pháp nào, không hề đuổi một đơn vị Nhật nào" mà Việt Minh đã "lợi dụng thời cơ và điều kiện rất thuận lợi để cướp chính quyền của chính phủ Trần Trọng Kim khi Pháp đã bị Nhật loại bỏ, Nhật đã đầu hàng, chính quyền hợp pháp không có quân đội, không chống lại".

Nực cười hơn, ông ta còn hoang tưởng khi viết tiếp rằng, khi CM tháng 8 nổ ra, tổng chỉ huy quân Nhật tại VN "có đề nghị với Bảo Đại và Trần Trọng Kim, rằng nếu phiá VN yêu cầu thì quân đội Nhật sẽ giúp bảo vệ chính quyền và đánh tan VM. Nhưng các ông đã không đồng ý, nghĩ rằng như thế là huynh đệ tương tàn, là làm đổ máu của người Việt một cách không cần thiết.Ông Kim còn đòi Nhật thả nhiều thanh niên VM bị Nhật bắt giam trước đó. Nhật đã thả họ"...

Xin thưa với "Giáo xư" Cống rằng, ông dẫn nguồn này theo "nghiên cứu và công bố của một số sử gia" song lại không dẫn ra chi tiết là "sử gia" nào đã "nghiên cứu và công bố" như vậy". Vậy, những chi tiết trên, ông Cống cũng chỉ là hạng đoán mò, lấp liếm lấy danh xưng "sử gia" để bịp bợm hòng lừa lọc những độc giả không tinh ý tin vào "nghiên cứu và công bố của sử gia" của ông ta. Nếu thực sự chính quyền Trần Trọng Kim và Bảo Đại được lòng nhân dân như Nguyễn Đình Cống nói hay không, những sự kiện xảy ra trước CM tháng 8 và sau đó đã minh chứng rõ cho điều ấy. Có lẽ, ông Cống không lạ gì với bức ảnh hàng ngàn người dân đổ về, tiếng vỗ tay, cờ hoa đem theo, tiếng reo vui tại Quảng trường để nghe Bác Hồ độc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. 

Thứ nữa, khi quân phát xít thua trận liên tiếp trên chiến trường, tiếng đầu hàng của Nhật hoàng vang lên trong những chiếc loa phát thanh là cũng chính thời điểm đó đến khi quân Đồng Minh vào Đông Dương giải giáp phát xít Nhật, quân Nhật bẽ bàng vì bại trận, mệt mỏi vì những ngày chiến đấu...càng điên cuồng hơn, cướp bóc, trấn lột, hà hiếp dân lành một cách vô cớ! Trước đây, nhân dân VN đã căm phẫn những hành động áp bức, bóc lột của phát xít Nhật thì nay, sự căm phẫn, uất hận đấy còn tăng lên gấp nhiều lần. 

Làm cha, làm mẹ phải bất lực khi nhìn con gái mình bị quân Nhật hà hiếp tập thể, nhìn con trai mình bị đánh khi không làm theo mệnh lệnh của chúng, nhìn thóc gạo trong nhà mình bị chúng đến cướp bóc trắng trợn... Và khi Việt Minh về Hà Nội, tiến hành CM tháng 8, người dân nhanh chóng đi theo tiếng gọi của Đảng, của Cách mạng, của tiếng lòng tự tôn dân tộc, của sự giải phóng chính bản thân mình và cho sự độc lập, tự do của cả dân tộc. Vì vậy, GS. Cống viết Việt Mih "không hề đánh một đơn vị Pháp nào, không hề đuổi một đơn vị Nhật" nào là hoàn toàn sai trái, đi ngược lại với lịch sử, với những đau thương, mất mát trong quá khứ của nhân dân ta.

(Còn nữa)
An Chiến

SỰ THẬT VỀ ĐẠI HỌC FULBRIGHT

by Hải An Phạm  |  at  8/23/2016 11:14:00 SA
Trước tiên, tôi muốn nhắc lại lời nhận xét của một nhà toán học nổi tiếng (*): NGƯỜI MỸ CHƯA BAO GIỜ XÂY DỰNG THÀNH CÔNG MỘT TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở NƯỚC NGOÀI. Sự thật đúng là như thế. Mặc dù hệ thống giáo dục đại học của Hoa kỳ phát triển và nổi tiếng nhất thế giới, người Mỹ chưa bao giờ xây dựng được một điển hình giáo dục thành công, chói sáng ở nước ngoài do người Mỹ chỉ đạo đường lối hay điều hành. Một số đại học đã trở nên rất thành công, chẳng hạn Đại học Quốc Gia Singapore, nhờ có được những chính sách phát triển đúng đắn của người Sing, và sự liên kết đào tạo và nghiên cứu với một số trường hàng đầu của thế giới, trong đó có MIT của Mỹ. Tuy nhiên, một trường đại học hoàn toàn do Mỹ bảo trợ thì không.

Thành công có thể có nhiều nghĩa. Thứ thành công mà tôi muốn nói đến, và cũng là thứ thành công mà ngành giáo dục Việt Nam quan tâm nhất hiện nay, là một đại học nghiên cứu với nhiều xuất bản quốc tế chất lượng cao, để nâng tầm chất lượng của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam. Đấy cũng là lý do nhà nước đổ vốn đầu tư vào xây dựng các trường liên kết như Việt-Đức, Việt-Pháp, Việt-Nhật…với hi vọng các đại học này sẽ trở thành những đầu tầu nghiên cứu trong khu vực.
Vậy người Mỹ định biến Đại học Fulbright (FUV) thành cái gì ở Việt Nam?
Thật ra FUV không giống các đại học tư nhân khác, bởi mặc dù do một nhóm tư nhân (thực chất là một nhóm nhân vật chính trị: Ben Wilkinson, Thomas Vallely, Bob Kerrey…) đứng ra thành lập, nhưng tiền đầu tư lại là của chính phủ Mỹ, chính phủ Việt nam góp đất chứ không có tư nhân nào đầu tư vào đây cả. FUV sẽ không có cổ đông như các đại học tư thục khác mà toàn bộ số tiền quyên góp được sẽ do một hội đồng tín thác độc lập quản lý [1]. (Wilkinson và Vallely đều có thời gian dài làm giám đốc Chương trình Việt Nam ở trường chính trị Harvard Kennedy. Còn Kerrey là một chính trị gia lõi đời, không ai lạ.)

Tuy nhiên, đầu tư ban đầu 20 triệu USD cho FUV là khá nhỏ so với đầu tư của đại học Việt-Nhật, 365 triệu USD, hay Việt-Đức, 180 triệu USD [2][3]. Tính trung bình cho giai đoạn 2016-2030, FUV chỉ được đầu tư 5 triệu USD/năm. Số tiền này thậm chí còn ít hơn ngân sách trung bình nhà nước Việt Nam cấp cho mỗi trường/viện thành viên của Đại học Quốc Gia Hà nội, khoảng 5.3 triệu USD/năm, mặc dù chính phủ Việt Nam rất nghèo. (Năm 2016, Đại học Quốc Gia Hà nội với 12 trường đại học/viện nghiên cứu trực thuộc, được nhà nước cấp ngân sách tổng cộng 64 triệu USD, nghĩa là mỗi trường/viện được khoảng 5.3 triệu USD/năm). [4][5] Với số tiền ít ỏi này, FUV khó có thể mua sắm trang thiết bị để đầu tư phát triển các ngành Khoa học Tự nhiên & Kỹ thuật (KHTN&KT) để chạy đua về xuất bản các nghiên cứu, để trở thành một đại học nghiên cứu chất lượng cao. Những người làm nghiên cứu lâu năm đều biết rằng các đại học phải đầu tư mạnh vào các ngành KHTN&KT thì mới có hi vọng cạnh tranh về số lượng xuất bản quốc tế, bởi thời gian để xuất bản được một bài báo quốc tế uy tín trong các ngành Khoa học Xã hội & Nhân văn (KHXH&NV) rất lâu. Lãnh đạo FUV cũng nêu rõ quan điểm ưu tiên đầu tư vào các ngành KHXH&NV, khi quyết định mở chương trình thạc sỹ chính sách công đầu tiên vào tháng 9/2016, và đến 2018, sẽ thành lập khoa KHXH&NV [6].

Đương nhiên, đại học nghiên cứu chất lượng cao không phải là mục đích của FUV!

Vậy FUV là đại học gì???

Còn nhớ, tiền thân của FUV là Chương trình Đào tạo Kinh tế Fulbright (FETP), đã tồn tại và hoạt động hơn 20 năm ở VN dưới sự dẫn dắt của Vallely, một thạc sỹ chính sách công, giám đốc Chương trình Việt Nam của trường chính trị Harvard Kennedy School (HKS). CHÍNH SÁCH CÔNG LÀ MỘT NGÀNH CHÍNH TRỊ, ĐÀO TẠO RA NHỮNG NGƯỜI LÀM NGHIÊN CỨU/HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH, HỖ TRỢ CẢI CÁCH THỂ CHẾ TƯ VẤN CHÍNH PHỦ,.v.v…
Ô. Thomas Vallely đại diện Trường Quản lý nhà nước Harvard Kennedy tặng quà lưu niệm cho GS.TS. Nguyễn Đông Phong đại diện Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

FETP là sản phẩm hợp tác giữa HKS và đại học Kinh tế TP HCM. Bản thân HKS là một trường chính trị, tương tự như Học Viện Chính trị và Hành chính Quốc Gia của Việt Nam. Mặc dù mang tên là một chương trình đào tạo kinh tế, ban đầu khoảng năm 1994 có giảng dạy một số khóa học về kinh tế. TUY NHIÊN SAU NÀY, FETP DẦN DẦN BIẾN HÓA TRỞ THÀNH CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO HOÀN TOÀN CHÍNH SÁCH CÔNG. Nghĩa là ông Vallely đã treo đầu dê bán thịt chó: treo biển kinh tế, nhưng đào tạo chính sách công. (Người ngoại đạo cũng có thể kiểm chứng điều này khi xem dòng giới thiệu cuối trang chủ của FETP [7]. Giám đốc đào tạo của FETP không có bằng cấp gì về kinh tế mà chỉ có bằng cao học về hành chính công (public administration), ngành mẹ của ngành chính sách công. Đương nhiên ông ta không cần bằng cấp kinh tế mà vẫn có thể làm giám đốc đào tạo bởi FETP đào tạo chính sách công chứ không phải kinh tế). Vallely cũng là tổng công trình sư của FUV, và là một trong những người ủng hộ mạnh mẽ việc bổ nhiệm Bob Kerrey làm chủ tịch FUV sau này [8]. (Tiến sỹ Mark Aswill cho rằng rất có thể quyết định bổ nhiệm Kerrey là của Vallely và John Kerry [15], còn nhà báo Thanh Tuấn thì tin rằng đây là quyết định sai lầm của Vallely [21]).

Chương trình đầu tiên mà FUV dự định triển khai đào tạo là Thạc sỹ Chính sách Công. Có thật là vì chưa quen với đào tạo bậc đại học, hoặc đào tạo các chuyên ngành khác cho nên FUV phải bắt đầu bằng đào tạo Thạc sỹ Chính sách Công hay không? Không lẽ người Đức, người Nhật, người Pháp làm được, còn người Mỹ thì không? Đương nhiên không phải. Người Mỹ không thiếu giáo sư giỏi để có thể xây dựng các chương trình đào tạo bậc đại học, và đào tạo các chuyên ngành khác.

Lý do là vì, không phải hơn 100 thượng nghị sỹ Mỹ xúc động vì sự thành tâm hối cải, mong muốn Bob Kerrey có cơ hội chuộc lỗi ở Việt Nam nên quyết định đầu tư vào FUV. (Quyết định bổ nhiệm Kerrey được ban hành sau khi quốc hội Mỹ quyết định đầu tư 20 triệu USD vào FUV năm 2014. Và mặc dù bà Tôn Nữ Thị Ninh và FUV tranh cãi về nguồn gốc số tiền này, không bên nào đưa ra bằng chứng, có lẽ do bí mật công việc). Người Mỹ làm gì cũng tính đến lợi ích của nước Mỹ trước tiên. Cộng thêm FUV được nhóm chính trị gia Thomas Vallely, Ben Winkinson xuất thân từ trường chính trị HKS bảo trợ, cho nên có thể tin rằng mục tiêu chính trị sẽ được đặt lên hàng đầu chứ không phải là mục tiêu giáo dục. FUV đào tạo bậc thạc sỹ chính sách công trước tiên chứ không đào tạo bậc đại học, vì đối tượng họ muốn hướng đến đầu tiên là lãnh đạo các cấp và những người có tiềm năng lãnh đạo ở VN, những người không có thời gian ra nước ngoài để theo học các chương trình thạc sỹ này. Người Mỹ muốn tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Việt Nam. Bởi vậy, một trong những cách tốt nhất là thông qua những người làm lãnh đạo các cấp. (Lãnh đạo ở đây được hiểu theo nghĩa là những người đảm nhận các chức vụ lãnh đạo ở các cơ quan, đoàn thể nhà nước hoặc có ảnh hưởng tương đối lớn trong xã hội VN).

Tuy nhiên, đào tạo tại chỗ chỉ là một cách tiếp cận, và chỉ hướng đến đối tượng là lãnh đạo cấp thấp và những người có tiềm năng lãnh đạo trong tương lai. Có nhiều cách khác để tăng cường ảnh hưởng của Mỹ ở Việt Nam, chẳng hạn như hợp tác giữa các cơ quan chuyên trách của hai quốc gia trên nhiều lĩnh vực, đưa các quan chức Việt nam sang Mỹ thăm quan, đào tạo, và thảo luận trực tiếp để trao đổi lợi ích giữa hai quốc gia. Trên thực tế, FETP hoặc FUV không đủ tầm để thu hút các lãnh đạo cấp trung và cao. Những người đã và đang gây ảnh hưởng lớn đối với xã hội Việt nam như nguyên PTT Nguyễn Thiện Nhân, bộ trưởng Cao Đức Phát đều được đào tạo ở Hoa kỳ, chứ không phải đào tạo trong nước. Sau hơn 20 năm phát triển, FETP cũng không tạo được ảnh hưởng gì đáng kể hơn các chương trình liên kết khác ở Việt nam như cao học Hà Lan, Pháp, Bỉ,…Một số người đã từng học FETP ra sau này trở nên nổi tiếng là nhờ tấm bằng ở một trường danh tiếng nào đó ở Hoa kỳ chứ không phải tấm bằng của FETP.

Theo kế hoạch của FUV, chính sách công và một số ngành KHXH&NV sẽ được ưu tiên đầu tư để tuyển sinh trước [6]. Các ngành KHXH&NV được FUV ưu tiên đầu tư (chính sách công, luật kinh doanh quốc tế, tài chính và quản trị kinh doanh, nghiên cứu và đối thoại chính sách) [16], đều là những ngành chính trị hoặc ngành rất quan trọng đối với cấp lãnh đạo. Theo suy đoán của tôi, đào tạo KHTN&KT nếu có cũng sẽ èo uột, bởi không phải là mục đích chính, và FUV cũng không có đủ tiền để đầu tư mạnh vào các lĩnh vực này. FUV sẽ đầu tư chủ yếu và cấp nhiều học bổng cho bậc thạc sỹ để thu hút những người có tiềm năng lãnh đạo của tất cả các ngành tham gia các chương trình thạc sỹ chính sách công, quản lý, và các ngành liên quan đến chính trị. Bậc đại học sẽ ít được đầu tư và cấp học bổng hơn bởi tương lai của các cử nhân mới ra trường rất phập phù. Không có gì đảm bảo là họ sẽ có được địa vị quan trọng trong xã hội Việt Nam.
FUV là một trường đại học có thiên hướng chính trị!!!
Có người nói rằng FUV đã lạm dụng tên gọi Fulbright, bởi trường này không liên quan gì đến quỹ học bổng Fulbright. Tôi lại nghĩ tên gọi đó phản ánh đúng bản chất của trường này, bởi học bổng Fulbright vốn là một học bổng chính trị, hướng đến đối tượng có năng lực lãnh đạo.

Để hiểu thêm Hoa kỳ có thật sự mong muốn phát triển các ngành KHTN&KT (còn gọi là các ngành STEM) của Việt Nam hay không, hãy thử so sánh học bổng Fulbright, một học bổng chính phủ lâu đời của Mỹ được thành lập và tài trợ bởi quốc hội Mỹ từ năm 1946, với học bổng chính phủ của các quốc gia khác dành cho Việt Nam. (VEF không được coi là dạng học bổng này bởi có nguồn gốc là tiền của Việt Nam, được Bộ Giáo dục Việt Nam đề nghị sử dụng để đào tạo cao học các ngành STEM ở Hoa kỳ cho công dân Việt Nam, và chỉ kéo dài hơn 10 năm đến khi hết tiền là ngưng). Trong khi các học bổng chính phủ của Úc, Nhật, Pháp, Đức, Bỉ, Hà lan, Canada…là các học bổng phát triển, đào tạo cả bậc thạc sỹ và tiến sỹ cho nhiều ngành KHTN&KT và KHXH&NV, học bổng Fulbright chỉ đào tạo bậc thạc sỹ cho một số ngành KHXH&NV và chỉ hướng đến đối tượng là những người có tiềm năng lãnh đạo. (Đương nhiên, lãnh đạo thì không cần có bằng tiến sỹ!). Các học bổng học giả ngắn hạn của Fulbright cũng chỉ đặc biệt chú trọng một số ngành KHXH&NV. Nước Mỹ rất giàu, GDP cao nhất thế giới, nhưng rõ ràng là quốc hội Mỹ chưa có ý định hỗ trợ đào tạo các ngành STEM, những ngành xương sống của các trường đại học chất lượng cao, cho các quốc gia như Việt Nam. (Chỗ này cần ghi chú, học bổng Chevening của Anh cũng chỉ cấp cho các ngành KHXH&NV và hướng đến đối tượng là những người có tiềm năng lãnh đạo của Việt Nam. Anh với Mỹ từng là hai quốc gia bố-con cho nên có lẽ tư duy giống nhau).

Các ngành STEM không chỉ quan trọng để xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế mà còn là những ngành cốt tử để phát triển quốc gia. Bởi lẽ theo lý thuyết của Schumpeter, một lý thuyết mà ngày nay đã được chấp nhận rộng rãi khắp thế giới, một trong những nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tăng trưởng kinh tế là nhờ sự đổi mới về kỹ thuật và công nghệ, nghĩa là có sự đổi mới trong các ngành STEM. (Các ngành KHXH&NV hầu như không đóng góp gì trong sự tăng trưởng này.) Đấy cũng là lý do rất nhiều quốc gia có chính sách thu hút nhân lực trình độ cao trong các ngành này. Chẳng hạn mới đây Hillary Clinton hứa hẹn nếu đắc cử tổng thống Hoa kỳ bà sẽ cấp thẻ xanh (thẻ lưu trú vĩnh viễn) cho tất cả các những công dân nước ngoài có bằng cao học các ngành STEM ở Hoa kỳ.

Cần nói thêm một chút về trường chính trị HKS, trường đỡ đầu của FETP, tiền thân của FUV. Đầu những năm 1990s, khi một số quốc gia phương tây bắt đầu liên kết đào tạo với Việt Nam, (Pháp có CFVG và IFI đào tạo quản lý và công nghệ thông tin; Hà lan có Cao học Hà lan, đào tạo kinh tế phát triển; Bỉ có cao học Việt-Bỉ, đào tạo quản lý…), thì Hoa kỳ, với đại diện là trường chính trị HKS, cũng nhanh chân lên kết với ĐH Kinh tế TP HCM thành lập FETP để đào tạo kinh tế, nhưng rồi dần dần biến nó trở thành một chương trình đào tạo chính sách công (một ngành chính trị). Điều này cũng chứng tỏ lối tư duy nặng mùi chính trị rất khác biệt của người Mỹ so với các quốc gia khác.

Theo bà Rena Bittner, tổng lãnh sự Hoa kỳ tại TP.HCM, "FUV không phải là “Trường đại học Hoa Kỳ” ở Việt Nam. FUV là trường đại học 100% Việt Nam. Trường được thành lập theo Luật giáo dục đại học, được Chính phủ cho phép thành lập" [1]. Và theo Luật giáo dục này, FUV cũng sẽ có một chương trình đào tạo chính trị Marx-Lenin giống như các trường đại học khác. Bằng của FUV sẽ do Bộ Giáo dục & Đào tạo VN cấp.

Tại sao FUV không chọn lối đi như RMIT để trở thành một “đại học Hoa kỳ” ở Việt Nam, mà lại chấp nhận Luật giáo dục đại học Việt Nam? (RMIT không cần tuân theo Luật Giáo dục Việt Nam, không giảng dạy chương trình chính trị Marx-Lenin, và không bị Bộ Giáo Dục Việt Nam kiểm soát.) Bởi vì RMIT quan tâm đến học thuật và hướng đến đối tượng đại chúng. Còn FUV, dưới sự bảo trợ của một nhóm chính trị gia, có thể tin rằng sẽ là một trường thiên hướng chính trị, nhắm đến đối tượng chính là những người có tiềm năng lãnh đạo. Lãnh đạo các cấp ở cơ quan nhà nước, các địa phương, đoàn thể, và phong trào xã hội ở Việt Nam đều là đảng viên hoặc chí ít là cảm tình đảng. Nếu FUV không thỏa hiệp với Bộ Giáo dục, không chấp nhận Luật Giáo dục Đại học Việt Nam, Đảng Cộng sản có thể sẽ không khuyến khích các đảng viên và các cảm tình đảng đi học, hoặc đi học về cũng không được đề bạt thì cũng họ cũng không đạt được mục đích. Một nguyên nhân nữa có thể tính đến là FUV đang “dụ dỗ” chính phủ Việt Nam chi thêm tiền đầu tư cho nên cần phải thỏa hiệp với Bộ Giáo dục càng nhiều càng tốt, bởi số tiền chính phủ Mỹ đầu tư ban đầu quá nhỏ, chả thấm vào đâu.

Hẳn là điều kỳ lạ (nhưng không khó hiểu) khi quốc hội Hoa kỳ đồng ý tài trợ cho FUV, một trường đại học theo quảng cáo là đẳng cấp quốc tế, nhưng đến tận giờ phút này vẫn chưa thấy ở FUV bóng dáng một nhà khoa học, nhà nghiên cứu người Mỹ nào với thành tích nghiên cứu quốc tế, trong khi lại tràn ngập các nhân vật có tư duy chính trị. (Mấy vị người Mỹ Vallely, Wilkinson và các vị người Việt là lãnh đạo chủ chốt của FUV, những người từng viết bài ủng hộ bổ nhiệm Kerrey, đều tốt nghiệp cao học chính sách công từ trường chính trị HKS hoặc có thời gian dài làm việc ở HKS.) Đây là điều rất khác biệt giữa FUV và các trường đại học nước ngoài khác ở Việt Nam như đại học Việt-Đức, Việt-Nhật, Việt-Pháp, bởi các đại học này trình làng trước tiên với hiệu trưởng là các giáo sư người Đức, người Nhật, và người Pháp. Một điều kỳ lạ nữa, mặc dù FUV thông báo là sẽ tuân theo luật giáo dục Việt Nam, nhưng hiệu trưởng của FUV hiện nay rõ ràng không đáp ứng được các tiêu chí của luật này (có bằng tiến sỹ và có ít nhất 5 năm kinh nghiệm làm lãnh đạo ở một cơ sở giáo dục đại học).

FUV cũng rất khác với các trường đại học của Mỹ ở Trung Quốc. Bài báo “Sự thất bại của các đại học Hoa kỳ ở Trung quốc” đăng trên tờ Foreign Affairs mới đây cho biết một số trường đại học danh tiếng ở Hoa kỳ như Duke, Johns Hopkins, và ĐH New York đã mở chi nhánh ở Trung Quốc bởi sức hấp dẫn của thị trường rộng lớn này [17]. Trong khi đó FUV lại do quốc hội Mỹ tài trợ nhưng chưa biết sẽ theo mô hình đại học nào. Không khó để suy đoán, thị trường đại học Việt Nam còn nhỏ hẹp và nghèo, chưa đủ để hấp dẫn các trường danh tiếng của Mỹ đầu tư đào tạo đa ngành. Trong khi đó, quốc hội Mỹ thì chỉ định chi một ít tiền để đào tạo một số ngành KHXH&NV quan trọng cho cấp lãnh đạo nhằm mục đích tăng ảnh hưởng chính trị. Tôi không nói rằng FUV sẽ không có các ngành KHXH&NV khác hoặc các ngành KHTN&CN. Tuy nhiên, FUV sẽ phải tự vận động quyên tiền, hoặc thu tiền của sinh viên cho các ngành này, giống như các trường đại học tư khác ở Việt Nam. Cần lưu ý rằng, đứng sau lưng các chi nhánh của các trường danh tiếng Hoa kỳ ở Trung quốc là các khoa đa ngành của các trường đại học này. Trong khi đó, đứng sau FUV là Chương trình Việt Nam của trường chính trị HKS.

Theo tâm sự của Thomas Vallely, kiến trúc sư chính của FUV, cách đây 10 năm cựu thủ tướng Phan Văn Khải đã nói với ông ta mong muốn xây dựng một trường đại học đẳng cấp quốc tế ở Việt Nam theo mô hình ĐH Harvard, nghĩa là đầu tư lớn để nâng cao chất lượng [9]. Tuy nhiên, Vallely thoái thác với lý do “không thể tạo dựng một FUV theo kiểu phiên bản Việt của ĐH Harvard, Oxford, Georgetown, Irvine, Nebraska hay SUNY” và “ngay cả ở Mỹ thì hệ thống đó cũng đang trở nên quá tốn kém và phải tìm đường thay đổi” ??? (Có thật thế không thì cần phải hỏi lại các học giả Mỹ!) Với số tiền được đầu tư khá nhỏ, nhóm chính trị gia bảo trợ cho FUV vẫn đang loay hoay chưa biết FUV sẽ dựa trên mô hình nào và tương lai sẽ ra sao. Chính Vallely cũng thừa nhận FUV mới chỉ là một “thử nghiệm”, “tôi hay bất cứ ai khác cũng không thể biết đích xác FUV sẽ có hình hài ra sao”, và “nếu chúng tôi không tìm được hướng đi đúng, FUV sẽ thất bại.” [9]. Một số nhà giáo dục gốc Việt cũng tỏ ý thiếu tin tưởng về tương lai và đẳng cấp của đại học này trong bài báo “ĐH Fulbright: “Giấc mơ Mỹ tại Việt Nam” sẽ đi về đâu?”[14]. Ngay cả GS Nguyễn Mạnh Hùng, một người ủng hộ FUV và Kerrey mạnh mẽ cũng thừa nhận rằng chính phủ Việt Nam dường như không mặn mà với FUV [10]. (Ông Hùng là một nhân vật chính trị đối lập, đã từng có nhiều phát biểu công khai ủng hộ các tổ chức và nhân vật chính trị đối lập với chính quyền Việt Nam.)

Rõ ràng là cựu TT Phan Văn Khải nhầm người. Ông muốn thành lập trường đại học đẳng cấp quốc tế thì phải hỏi các giáo sư, các nhà khoa học Mỹ chứ hỏi chính trị gia làm gì? Chính trị gia thì biết gì về nghiên cứu và xuất bản? Chính trị gia cho nên mới treo biển kinh tế, nhưng giảng dạy chính sách công. Chính trị gia cho nên mới vác theo cả scandal Bob Kerrey vào Việt Nam. Việt Nam cần đại học “đẳng cấp quốc tế”, nghĩa là phải theo mô hình chuẩn của nhiều đại học thành công khác trên thế giới thì mới có thể so sánh được với nhau, để biết có “đẳng cấp” hay không. Còn đại học mà ông Vallely đề xuất là một thử nghiệm “không giống ai” thì đâu phải là thứ mà một nước nghèo, giáo dục và khoa học đều yếu kém như Việt Nam cần.

Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm từng nói: “Tôi nghĩ là Tommy Vallely và Ben Wilkinson sẽ không đi sâu vào lĩnh vực học thuật mà chủ yếu tập trung vào chuyện gây quỹ” [11]. (Ben Wilkinson là giám đốc điều hành Quỹ Sáng kiến Đại học Việt Nam, đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn để đầu tư cho FUV (TUIV)). Một bài báo trên tờ New York đã chỉ ra rằng trong thời kỳ ở New School, Kerrey không dùng tiền đầu tư vào học thuật mà chủ yếu là các lĩnh vực khác [12]. Còn giáo sư Vũ Đức Vượng, đại học De Anza thì nói về Kerrey: “thời kỳ ông làm (hiệu trưởng) ở New School đơn giản là thảm hoạ. Đúng là ông ấy quyên góp được nhiều tiền, nhưng ông ấy cũng tiêu xa xỉ không kém. Nếu ông ấy định lặp lại mô hình đó ở Việt Nam lộn xộn này thì đó chẳng phải là thành tựu gì.” [11] Đương nhiên, đó không phải là thành tựu cho nên ông ta mới bị bãi nhiệm chủ tịch trường này. Thật ra Kerrey không thể lặp lại mô hình của đại học New School, bởi đại học đó đòi hỏi đầu tư lớn. Còn mô hình đại học Minerva mà Kerrey có chút kinh nghiệm là thứ Việt Nam không thực sự cần, bởi đó là mô hình “không giống ai” và không đủ điều kiện về công nghệ thông tin cũng như giảng viên quốc tế, hoặc nếu có thì học phí rất đắt mà sinh viên Việt Nam không chịu nổi, trong khi FUV được đầu tư khá ít [20]. Ngành giáo dục Việt nam hiện nay chỉ “khát” đại học nghiên cứu chất lượng cao.

Nên nhớ rằng Hội đồng Tín thác (tên gọi khác của Hội đồng Quản trị) ở Mỹ hay Hội đồng Quản trị theo Luật Giáo dục Đại học Việt Nam đều có quyền quyết định về mục tiêu, chiến lược, kế hoạch, tổ chức, nhân sự, tài chính, hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế… Như vậy, họ có quyền bổ nhiệm hiệu trưởng phù hợp với quan điểm chính trị của họ và loại bỏ những người mà họ không ưa, cho dù có uy tín học thuật cao. Việc FUV sẽ không có cổ đông như các đại học tư thục khác mà toàn bộ số tiền quyên góp được sẽ do một hội đồng tín thác (HĐTT) độc lập quản lý[1] là điều đáng để suy ngẫm, bởi HĐTT của FUV và đơn vị chịu trách nhiệm huy động vốn cho FUV (TUIV) hiện nay đều do các nhân vật chính trị đứng đầu.

Tự do học thuật ư? Chẳng phải các nhà giáo dục Việt Nam đang đòi hỏi trường đại học phải độc lập với chính trị hay sao? Các vị tin rằng các chính trị gia sẽ chỉ gây quỹ, và để cho các nhà khoa học, nhà giáo dục làm chủ trường đại học thật sao? Tôi thì không nghĩ rằng các chủ đề kiểu như thành tích thảm sát dân thường của Kerrey, hoặc các quốc gia khác phản đối những hành vi lố bịch của Mỹ trên đất nước họ như thế nào được tự do thảo luận ở FUV. Mặt khác, trong bài báo “Sự thất bại của các đại học Hoa kỳ ở Trung quốc”, tác giả Harrington phàn nàn rằng các chi nhánh đại học của Mỹ ở Trung Quốc chỉ “chuyển giao bằng cấp, không chuyển giao giá trị”, và coi đó là một thất bại, bởi chính phủ của ông Tập Cận Bình kiểm soát chặt chẽ, không cho phép tự do phát biểu chính trị trong các trường này [17]. Chi nhánh của các trường đại học “100% Hoa kỳ” mà còn như vậy, không khó để hình dung FUV sẽ như thế nào với tư cách là một trường đại học Việt Nam, tuân theo luật giáo dục Việt Nam.

Dĩ nhiên còn một khả năng nữa. Đó là sau khi đọc bản đề án tù mù, chưa biết sẽ theo mô hình nào, tương lai sẽ ra sao, khởi đầu chỉ thấy các ngành KHXH&NV nặng mùi chính trị, lại do một nhóm chính trị gia đề xuất chứ không thấy bóng dáng các nhà khoa học, chính phủ Việt Nam cũng hiểu ra rằng FUV sẽ là một trường với thiên hướng chính trị chứ không trở thành đại học nghiên cứu chất lượng cao như mong đợi, cho nên cương quyết chỉ cho phép thành lập nếu là FUV chấp nhận là trường đại học của VN, tuân theo Luật Giáo dục VN, do bộ giáo dục Việt Nam cấp bằng.

Tôi muốn nói thêm một chút về Trung tâm Dân chủ Lập hiến (CCD) của đại học Indiana Bloomington để độc giả hiểu quan điểm của Hoa kỳ đối với Việt Nam, mặc dù trung tâm này không liên quan đến FUV. Indiana Bloomington là một trong những đại học lớn và nổi tiếng nhất ở Hoa kỳ về đào tạo chính sách công/hành chính công và luật (Top 3 về chính sách công/hành chính công, và top 25 về luật). Trung tâm CCD của trường này là nơi đào tạo nhiều nhà hoạt động chính trị đối lập, và Việt Nam là một trong 5 quốc gia được trung tâm lựa chọn để thúc đẩy nhân quyền, hòa bình, và chính phủ tốt (cùng với Miến điện, Lybia, Liberia, và Nam Sudan) từ 10-15 năm nay [18]. Cuối năm ngoái, Miến điện đã có bầu cử dân chủ sau 25 năm. Liberia thì đã chấm dứt nội chiến từ 2003, nhưng là một trong 2 quốc gia nghèo nhất thế giới, và năm 2013, cả nước không có học sinh nào thi đỗ đại học. Tình hình chính trị ở Nam Sudan đang hỗn loạn và quốc gia này đang trên bờ vực sụp đổ. Còn Lybia, chính Obama đã thừa nhận là sai lầm lớn nhất trong hai nhiệm kỳ tổng thống của ông là đã không chuẩn bị kế hoạch hậu chiến sau khi phương tây tiêu diệt nhà độc tài Ghadafi dẫn đến hỗn loạn ở quốc gia này và khiến cho nhà nước hồi giáo IS trỗi dậy [19]. Như vậy, kết quả sự can thiệp của Mỹ vào nhóm quốc gia này khá phức tạp. Còn nhớ trong quá khứ, Hoa kỳ cũng từng can thiệp thô bạo vào nhiều quốc gia khác để hạ bệ các nhà lãnh đạo có tinh thần dân tộc cao hoặc ít “thân Mỹ”, và dẫn đến thảm họa cho các quốc gia đó. Vậy nên Việt Nam có cơ sở để lo ngại khi được Hoa kỳ đưa vào tầm ngắm.

Các chính trị gia Mỹ và đại sứ Ted Osius rất khôn bởi một mặt khẳng định FUV là đại học tư nhân, không liên quan gì đến chính phủ để thoái thác mọi trách nhiệm nếu có bê bối xảy ra. (chẳng hạn vụ bê bối Bob Kerrey). Nhưng mặt khác lại quảng cáo rùm beng FUV được quốc hội Mỹ đầu tư, ngoại trưởng đến cắt băng khánh thành, tổng thống Mỹ đến đọc diễn văn để thu hút công chúng Việt Nam. Điều này làm tôi nhớ đến tổ chức Quyên Trợ Quốc Gia vì Dân chủ (NED) khét tiếng của Hoa kỳ ở Washington DC, nơi đào tạo thường xuyên các nhà hoạt động chính trị đối lập cho nhiều quốc gia mà chính phủ các nước này nghe đến đều ngán ngẩm, nhưng cũng chỉ là một tổ chức tư nhân.

Nói tóm lại, FUV chỉ là một thử nghiệm được đầu tư khá nhỏ, chưa biết tương lai sẽ ra sao. FUV được bảo trợ và thao túng bởi một nhóm chính trị Mỹ cho nên sẽ ưu tiên các mục tiêu chính trị hơn là các mục tiêu giáo dục. Và chính vì nhóm chính trị bảo trợ không có lương tâm của các nhà giáo cho nên mới để xảy ra vụ bê bối Bob Kerrey. Sứ mệnh của FUV: “Niềm tin của chúng tôi vào sức mạnh của giáo dục trong việc tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia”, chỉ là sự dối trá của nhóm chính trị này khi cố tình chia rẽ và làm tổn thương người Việt. Trong vài năm đầu, giống như rất nhiều trường nước ngoài khác ở VN, FUV có thể sẽ đầu tư cấp nhiều học bổng để thu hút một số lượng lớn sinh viên và tạo dựng uy tín. Tuy nhiên, FUV không phải là thứ ngành giáo dục Việt Nam cần nhất hiện nay: một đại học nghiên cứu chất lượng cao.

Tôi không phản đối FUV, nhưng hi vọng công chúng không ảo tưởng về quy mô cũng như tầm quan trọng của nó đối với ngành giáo dục nước nhà, không bị lóa mắt bởi tuyên truyền, quảng cáo, bởi Hoa kỳ chưa chắc đã thực tâm muốn phát triển ngành giáo dục VN như nhiều quốc gia phương tây khác. Cá nhân tôi không nghĩ rằng nó sẽ làm được cái gì hơn vô số chương trình liên kết nước ngoài khác ở Việt Nam. Hơn nữa, giáo dục và chính trị vốn là mối quan hệ lành ít dữ nhiều. Xưa nay, các nhà khoa học vẫn luôn luôn đấu tranh chật vật để thoát khỏi ảnh hưởng của giới chính trị gia để được làm chủ trường đại học. Nên nhớ, không ở đâu trên thế giới có trường đại học đa ngành thành công do các chính trị gia bảo trợ và thao túng!!! Cũng không có trường đại học danh tiếng nào trên thế giới lấy nòng cốt là ngành chính sách công, trừ phi đó là một trường chính trị.

Tuy nhiên, tôi cực lực phản đối Bob Kerrey làm chủ tịch FUV.

Như đã nêu trong bài “Bob Kerrey - Kẻ phá hoại cộng đồng”[13], ông ta là kẻ chia rẽ cộng đồng và làm tổn thương một bộ phận dân tộc Việt Nam. Tâm lý của ông ta có vẻ giống như Chí Phèo “Ai cho tao làm người lương thiện”. Lý lịch vấy máu, tanh tưởi mà cứ đòi giữ những vị trí quan trọng trong ngành giáo dục VN để tự huyễn rằng, mình cũng sạch sẽ, đáng được trân trọng như những người khác. Năm nay ông ta đã 73 tuổi, nghĩa là chỉ còn đi gây quỹ được vài năm nữa. Mọi nỗ lực của ông ta với FUV sẽ là vô nghĩa bởi không thể bù đắp được những tổn hại mà ông ta gây ra trên đất nước này. Nếu thành tâm muốn giúp đỡ Việt Nam, ông ta nên ở lại Hoa kỳ, tiếp tục hỗ trợ quan hệ Mỹ-Việt trên các lĩnh vực thương mại, ngoại giao, quân sự, thì sẽ hữu ích hơn nhiều cho VN, ngay cả xét dưới góc độ tài chính, mà không làm tổn thương đến ai.

Cần phải nói thêm, vụ ủng hộ Bob Kerrey ồn ào này có sự kích động của giới hoạt động chính trị đối lập cả trong và ngoài nước. Hầu như tất cả các website của các tổ chức chính trị đối lập lớn và rất đông các nhân vật bất đồng chính kiến đồng loạt viết bài ủng hộ biện minh, thậm chí ca ngợi Kerrey. Có nguồn tin cho rằng, trước nay giới chính trị Mỹ đã hỗ trợ giới hoạt động chính trị đối lập người Việt khá nhiều (ví dụ giúp đỡ các nhân vật chính trị đối lập thoát tù), cho nên đổi lại, giờ đây giới hoạt động chính trị đối lập ở Việt Nam phải ngậm đắng nuốt cay nhiệt tình ủng hộ bất kỳ “món quà hôi thối” nào phía Mỹ dành cho Việt Nam.
Nhà văn Nguyên Ngọc

Tôi chợt nhớ đến Nguyên Ngọc, một nhân vật ủng hộ Kerrey cuồng nhiệt, một người từng đi biểu tình chống Trung quốc trong khi có sự ngăn cấm của chính quyền, từng kiện cáo ầm ỹ đài truyền hình Hà nội vì bị đài này gọi là “phản động” vì đi biểu tình, từng ra khỏi hội nhà văn Việt Nam, từng tham gia thành lập “Văn đoàn độc lập”, từng từ chối nhiều giải thưởng văn học của nhà nước. Tôi sẽ không bình luận những việc làm đó là đúng hay sai, nhưng khoảng cách từ những hoạt động ấy đến trở thành đối lập chính trị rất gần. (Có khi ông Ngọc được an ninh Việt Nam xếp vào nhóm đối lập chính trị rồi cũng nên!) Nguyên Ngọc khoe là bạn thân của Thomas Vallely, trong khi đang là chủ tịch hội đồng khoa học của Quỹ Văn hóa Phan Châu trinh. Vụ Vallely được giải thưởng của Quỹ này năm 2014 không biết có phải do ông Ngọc vận động hay không? Về bài viết “về trường hợp Bob Kerrey” của ông Ngọc, tôi chỉ có thể gọi là sự táng tận lương tâm. Chính phủ Mỹ đến tận bây giờ vẫn tôn vinh tấm Huân chương Danh dự của Kerrey vì thành tích tiêu diệt “Việt cộng” - những đồng đội của ông ta một thời, có nghĩa họ không coi là đồng đội của ông ta là đồng nghiệp với Kerrey, bởi không ai tôn vinh kẻ giết đồng nghiệp. Chưa kể, thảm sát dân thường là tội ác mà cả nhân loại ghê tởm, khiến hầu hết người Mỹ quan tâm đến vụ này đều phản đối, chỉ trừ đám “người nhà” của FUV ủng hộ. Thế mà ông ta lớn tiếng ca ngợi sự sám hối của Kerrey là “vỹ đại” và “FUV có được một người đứng đầu như vậy là tuyệt đẹp. Và tôi cho lựa chọn của FUV là thật nhân văn.” Lại còn so sánh giặc ngoại bang thực sự giết người tương đương với hành vi bộ đội nấp trong dân khiến dân gặp nguy hiểm, mà nếu dân không đồng ý cho nấp thì cũng không nấp được. Giết mấy chục mạng người mà chỉ cần sám hối là xong, thậm chí còn được ông ta tôn lên vị trí nhà khai sáng ở xứ sở y từng gây tội ác!!!

Shakespeare có câu “Quỷ sứ cũng có thể trích dẫn kinh thánh!”. Đạo đức là một môn học thuộc lĩnh vực triết học. Và đối với triết học thì có vô số người đơn giản là không đủ năng lực để tư duy. Dĩ nhiên, không chỉ Nguyên Ngọc mà có đến hàng trăm nhân vật khác, rất nhiều trong số đó không hiểu gì mấy về giáo dục đẳng cấp quốc tế nhưng thích đánh đu với giới chính trị Mỹ, đang “trích dẫn kinh thánh”để biện minh cho một thứ đạo đức quái gở, đi ngược với cả nhân loại [22].

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(*) Giáo Sư Phùng Hồ Hải, viện phó Viện Toán học Việt nam, thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới thứ 3.



























Nguyễn Kiều Dung
Tiến sỹ Kinh tế
(Tốt nghiệp từ Đại học Bang New York, Hoa kỳ)

Thứ Hai, ngày 22 tháng 8 năm 2016

NGHĨ VỀ SỨ MỆNH "MỞ RỘNG NƯỚC CHÚA " CỦA GIÁO PHẬN VINH

by Hải An Phạm  |  at  8/22/2016 03:53:00 CH
Theo xác tín của trang Giáo Phận Vinh:
 "Đến hẹn lại lên
Trong bầu khí hân hoan Mừng lễ Đức Mẹ Linh hồn và Xác lên trời _ Quan thầy Giáo Phận Vinh.
Xin được hiệp thông với anh chị em sv, Di Dân ngày tôn vinh Đức Mẹ trong Đại Hội Di Dân Giáo Phận Vinh tại Sài Gòn. Nguyện xin Đức Mẹ Maria, Nữ Vương thiên đàng luôn phù hộ quí Đức Cha và Giáo phận Vinh chúng con, đặc biệt là quê hương Viêt Nam". 

Một số hình ảnh tại Đại hội di dân Giáo phận Vinh tại Miền Nam trong ngày 21/8/2016 tại nhà thờ Khiết Tâm (TP Hồ Chí Minh). 

Từ điều này có thể hiểu đây là một dịp lễ có tính thường niên của Giáo phận Vinh diễn ra hàng năm nhưng không được tổ chức tại một nhà thờ, thánh đường của một xứ, họ đạo nào thuộc Giáo phận trên dải đất Nghệ - Tĩnh - Bình; mà lại được tổ chức tại nhà thờ giáo xứ Khiết Tâm tại TP Hồ Chí Minh. 

Qua tìm hiểu của người viết thì cùng với hệ thống xứ, họ đạo tại vùng đất Nghệ - Tĩnh - Bình, Tòa Giám mục Giáo phận Vinh đã  xây dựng trung tâm Đại diện tại số 32, Nguyễn Bỉnh Khiêm, TP Hồ Chí Minh và cử 01 Linh mục đứng ra coi sóc, xem đó như một giáo xứ trực thuộc Giáo phận. Trung tâm này hoạt động như một hình thức "Đại Sứ quán" và đây cũng là nơi trú chân, sinh hoạt tôn giáo của đông đảo giáo dân là con em của Giáo phận Vinh làm ăn, sinh sống và học tập tại đây. Ngoài ra, trung tâm này cũng kiêm thêm một chức năng nữa là nơi trú chân của các chức sắc trong quá trình truyền đạo tại khu vực Miền Nam và cả một số nước như Thái Lan. 

Vì vậy, có thể hiểu Đại hội Di dân năm nay của Giáo phận Vinh vừa là để mừng Quan thầy Giáo phận Đức mẹ Maria hồn và xác lên trời 15/8/2016 (do ngày 15/08/2016 Giáo phận Vinh đã tổ chức tại Nhà thờ Chính tòa nên không thể tiến hành đồng thời mà phải lùi thời gian); đồng thời cũng là dịp để Tòa Giám mục Giáo phận và Ban Mục vụ di dân trực thuộc Tòa Giám mục Giáo phận Vinh đánh giá lại 1 năm thực hiện công cuộc truyền đạo và loan báo Tin mừng của Thiên chúa lên những vùng đất mới. Sự kiện một vị Linh mục Giacôbê Vũ Thế Hanh, bề trên tiên khởi của Dòng Anh Em Thuyết Giảng (Đa Minh, OP) Việt Nam tại Thái Lan và 11 bạn trẻ con cái giáo phận Vinh đã tử nạn tại Thái Lan ngày 02.06.2014 là một minh chứng cho thấy Giáo phận Vinh đang xem trọng và thông qua chính những tín hữu của mình để tuyên truyền, phát triển đạo của mình tại vùng đất mà mới chỉ có sự hiện diện của Phật Giáo. 

Trong khuôn khổ Entry này, không có ý nói ra để bài xích hay công kích những công việc mà chức sắc, tín hữu Công giáo Giáo phận Vinh đang làm, trong đó có sứ mệnh tuyên truyền, phát triển đạo lên những vùng đất mới. Dưới góc nhìn của một người ngoại đạo, tôi xin được nói đôi điều về mối tương quan của sứ mệnh này với những vấn đề có tính nội tại đang diễn ra ngay chính trong địa phận - trên dải đất Thanh - Nghệ - Tĩnh. 

Trước hết, phải khẳng định rằng, không phải riêng đạo Công giáo, để duy trì ảnh hưởng và cũng là kéo dài sự tồn tại của mình hầu hết các tôn giáo đều xem trọng việc tuyên truyền, phát triển đạo. Đấy cũng là cách mà các tôn giáo sử dụng để cạnh tranh nhau trong bối cảnh đức tin của một số tôn giáo đang bị thách thức, xói mòn bởi những biến động đa chiều của đời sống xã hội! Tuy nhiên, đúng như quy luật phản ánh bản chất của hầu hết các cuộc chiến tranh trên thế giới, những quốc gia đưa quân đi xâm lược, chinh phạt những vùng đất mới thường là khi họ đã có một sự phát triển, ổn định nhất định ở bên trong. 

Điều này cũng đảm bảo rằng, khi họ đưa đi một phần của lực lượng thì vẫn không có bất cứ một thế lực lân bang nào đủ sức hạ gục họ. Hay nói cách khác, bất cứ đế quốc nào dù mạnh đến mấy nhưng sự ổn định bên trong mới khiến họ nghĩ đến chuyện mở rộng ra bên ngoài. Tình thế của Mỹ hiện tại cho thấy rất rõ thực tế này. Theo đó, dù được biết đến với tư cách là siêu cường của thế giới, sự ảnh hưởng của Mỹ tại những vùng đất mà họ đã có mặt dù đã suy giảm nhưng để để khuất phục một quốc gia nào đó (như họ đã từng khuất phục Y Rắc, Libi) không phải là chuyện quá khó. Nhưng họ đã không thực hiện bởi họ còn quá nhiều vấn đề để lo và một trong những yếu tố được chỉ ra chính là sự phản đối của người dân đằng sau những cuộc chiến mà người Mỹ đã phát động tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi. 

Đối chiếu với quy luật này thì Giáo phận Vinh, nơi do Giám mục Phaolô Nguyễn Thái Hợp đang đi ngược lại. 

Giáo phận Vinh chưa có ngày yên bình từ sau năm 2010, đó là điều mà bất cứ ai dù là con em địa phận Vinh hay những người tại vùng đất Nghệ - Tĩnh - Bình đều biết và thấu hiểu. Nhiều vụ mà tôi gọi là "đụng độ" giữa giáo hội và chính quyền đã xảy ra mà xin thưa rằng đến nay, hậu quả của nó vẫn chưa được giải quyết một cách triệt để. Tình trạng có sự vênh giữa giáo hội Công giáo địa phận Vinh với chính quyền 03 tỉnh trong rất nhiều chính sách, việc làm cụ thể đang khiến cho cái không khí hợp tác, hiểu nhau dưới thời những vị chủ chăn trước đó như Giám mục Cao Đình Thuyên, Trần Xuân Hạp, Nguyễn Năng... mất đi một cách khó hiểu và chóng vánh! 

Và những ai chứng kiến những gì xảy ra gần đây, sau vụ cá chết tại một số tỉnh Miền Trung hẳn sẽ thấy rõ hơn những vấn đề nội tại mà địa phận Vinh đang gánh chịu. Cụ thể, chứng kiến việc một số chức sắc, giáo dân vẫn xuống đường tuần hành, biểu tình dù đây là nội dung không được khuyến khích trong Thư chung ngày 13/05/2016 hay trong Thông báo ngày Môi trường toàn địa phận của Ban Công lý & Hòa Bình Giáo phận Vinh (27/7/2016), dư luận đang đặt vấn đề có hay không chuyện suy giảm đức tin đang xảy ra trong đời sống của giáo dân nơi đây? Mối quan hệ với chính quyền chưa được cải thiện một cách tích cực (được biết đây cũng là vấn đề mà qua nhiều kênh thông tin khác nhau, Tòa thánh đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu Giám mục Nguyễn Thái Hợp phải cải thiện) cũng là vấn đề cần được suy nghĩ. 

Chưa hết, vấn đề mở rộng địa bàn ảnh hưởng ra các vùng đất mới cũng đang đặt Giáo phận Vinh phải không ngừng gia tăng đội ngũ chức sắc để coi sóc, mục vụ... Trong khi đó, việc tự ý đào tạo, chiêu sinh của Giáo phận đang vi phạm nghiêm trọng quy định của Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004.... 

Nói cách khác, nội tại Giáo phận Vinh đang có quá nhiều vấn đề mà họ cần tập trung để giải quyết hơn là tập trung công sức, vật lực cho việc tuyên truyền, phát triển đạo. Đó là chưa nói tới, ngay trong sứ mệnh này họ đã từng vấp váp bởi sự vội vàng, nôn nóng của mình. Vụ việc xảy ra tại thôn Trung Hương, xã Yên Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An có thể xem là một ví dụ hết sức thời sự. Đồng ý rằng, nơi nào có giáo dân sinh sống thì việc thực hành các sinh hoạt tôn giáo là cần thiết, chính đáng. Vậy nhưng, nó được thực hiện lúc nào, nơi nào và ra sao là điều mà bất cứ ai cũng cần phải suy nghĩ một cách thận trọng. 

Và lẽ ra khi đến với một nơi từng là lãnh địa, nơi cư trú lâu đời của đồng bảo dân tộc Thái như huyện Con Cuông thì Giáo phận Vinh phải tính đến yếu tố xung đột giữa văn hóa bản địa với chính tôn giáo của mình! Việc họ bỏ qua đã vô tình khiến cho cái xung đột ngỡ như hiện tương đó có sức phô ra mà đến chính quyền địa phương vẫn không thể ngăn cản nổi! Chính vì vậy, với những vấn đề được chỉ ra, nếu được tham vấn cho những chức sắc Công giáo tại địa phận Vinh thì tôi thiết nghĩ rằng, họ nên tập trung giải quyết những vấn đề nội tại đang diễn ra ngay trong chính địa phận. Và họ sẽ nghĩ đến việc tuyên truyền, phát triển đạo chừng nào họ giải quyết thấu đáo, hợp lẽ những vấn đề trên. Tôi tin chắc rằng, khi đó họ sẽ đủ sáng suốt để giải quyết những sự vấp váp mà họ đã gặp phải bấy lâu nay trong sứ mệnh loan báo tin mừng, mở rộng nước Chúa! 

An Chiến

Chủ Nhật, ngày 21 tháng 8 năm 2016

MỘT GÓC NHÌN KHÁC VỀ VIDEO "NGƯỜI VIỆT TẠI MỸ QUYÊN TIỀN ỦNG HỘ GIÁO PHẬN VINH BIỂU TÌNH"

by Hải An Phạm  |  at  8/21/2016 03:56:00 CH
video
Mấy hôm nay, cộng đồng mạng lan truyền một video quay cảnh ông Phát Bùi - Chủ tịch cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California (đây cũng là những thành viên tham gia tổ chức Đảng Việt Tân đã tổ chức cuộc họp với một số thành viên vào tối ngày 15 tháng 8 năm 2016 tại Thư Viện Việt Nam, trên đường Westminster Ave, thuộc Thành phố Garden Grove, Miền Nam California, Hoa Kỳ. Mục đích cuộc họp nhằm (1) kêu gọi Cộng đồng người Việt Hải Ngoại tại Hoa Kỳ phát động cuộc biểu tình tuần hành ngày 27 tháng 8 tới đây tại Little Saigon, kết hợp với các hoạt động biểu tình trong nước tiếp tục yêu cầu nhà cầm quyền Cộng sản phải đóng cửa nhà máy Formosa. (2). Đồng thời, trong nội dung được nói đến Vị chủ tịch cộng đồng Người Việt Quốc Gia Nam California cũng đã cho biết, nhấn mạnh tới việc: "Bà Triệu đã từng gửi tiền về trong nước cho Địa Phận Vinh và sắp tới bà Triệu sẽ tiếp tục lo việc này...". 

Qua tìm hiểu của người viết thì người đã quay và đăng tải, tá phát video về cuộc họp trên là một thành viên của tổ chức Việt Tân. Và với thời lượng tương đối ngắn, video đang tạo ra nhiều sự sự úp mở, nghi hoặc cho người xem. 

Có một thực tế rất dễ thấy, sau khi xuất hiện Video này rất nhiều người đã không quá quan tâm tới những nguồn gốc cũng như động cơ của người quay và đăng tải video nói trên. Họ vội vàng tải Video về và xem đó là một bằng cớ không thể xác thực và hùng hồn hơn chứng tỏ việc nhận tiền tài trợ của các chức sắc Công giáo địa phận Vinh để tổ chức các cuộc tuần hành, xuống đường vừa qua. 

Vậy, đâu là sự thật từ Video này và đâu là động cơ khiến một thành viên của tổ chức Việt Tân phản trắc lại chính tổ chức của mình. Xin được chia sẻ đôi điều ở một góc nhìn tương đối mới về video này những mong những ai thực sự quan tâm, hiếu kỳ suy xét lại trước khi đăng tải, quy kết bản chất của nó. 

Trước hết, phải khẳng định rằng, không ai lạ gì tổ chức Việt Tân của cộng đồng người Việt tại Hải Ngoại tại CAM, một tổ chức ô hợp bây lâu nay bị cộng đồng người Việt tại Hải Ngoại chối bỏ và dính líu đến nhiều điều tiếng. Việt Tân đã nhiều lần quyên góp tiền bạc của Cộng đồng người Việt Hải Ngoại, hô hào lật đổ chế độ Cộng sản nhưng lại vun vén đi thu lợi về để chia chác, mở hàng loạt cửa hàng, siêu thị...tại nhiều nước trên thế giới, thu lợi cho bản thân số đứng đầu. 

Tuy nhiên, số đứng đầu tổ chức này đa phần đều là người thân trong gia đình đại gia đình của Lý Thái Hùng - Kẻ tự xưng là Chủ tịch Đảng Việt Tân, một kẻ tham quyền cố vị từ năm 2006 đến nay, nắm về kinh tế, thủ quỹ, chi tiêu...đã không it lần bị Cộng động người Việt tại Hải Ngoại vạch mặt. Đến nay tổ chức này ngày càng bộc lộ bản chất một tổ chức không từ thủ đoạn bỉ ổi nào để đạt được mục đích của mình. 

Chân dung Lý Thái Hùng, Chủ tịch "Đảng Việt Tân". Nguồn: Internet. 

Và câu hỏi đặt ra là liệu có kẻ đang âm thầm phản bội chính tổ chức của mình (Việt Tân) khi cố tình làm lộ, đăng tải Video nói trên hay đấy là một sự đáp trả mà cộng đồng người Việt tại Hải ngoại nói chung, tại Mỹ nói riêng đang hướng tới Việt Tân sau những lùm xùm vừa qua? 

Dưới khía cạnh của một người quan sát, tôi hoàn toàn không quá quan tâm tới 02 sự nghi vấn này. Việt Tân đang mất dần uy tín, đó là điều mà không ai không thấy và để lấy lại uy tín và nhất là chứng minh những nguồn tiền được quyên góp vẫn thường xuyên gửi về trong nước (trong đó có những chức sắc công giáo địa phận Vinh) chứ không phải được dùng để làm của riêng của các vị lãnh đạo tổ chức này. Và để thực hiện điều này, tổ chức này đã nghĩ ra một cách vu vạ mà nếu thành công họ sẽ không chỉ xóa được điều tiếng xấu mà còn có thể hướng đến những muc tiêu lớn hơn mà họ vẫn xem đó là một trong những tiêu chí để quyên tiền từ những người từng phục vụ hoặc con em của chế độ Sài Gòn cũ.

Theo đó, thông qua một video mang tính úp mở, tình cờ này, tổ chức này đã dễ dàng gán cho việc Địa phận Vinh nhận tiền từ tổ chức này. Đó là một sự bịp bợm trắng trợn vu khống cho giáo hội Công giáo Việt Nam nói chung và cho địa phận Vinh nói riêng. Mục đích nhằm đơm đặt thông tin tạo thêm nhiều bất ổn trong xã hội Việt Nam và sự nghi ngại đến từ phía nhà cầm quyền Cộng sản đối với Giáo hội dẫn đến đối đầu. Việc Giáo phận Vinh có tiếng nói phản đối Formosa vừa qua vì thế vô tình trở thành một điều kiện không thể tốt hơn để những cứ liệu được nói đến trong Video được tin là sự thật dù cho những tiếng nói phản đối đó xuất phát từ lương tri và tinh thần đối với đất nước và dân tộc Việt Nam trước hiểm họa về môi trường, môi sinh, vì giống nòi, Đức Cha Phao Lô và các Cha đã không ngừng cầu nguyện cho quốc thái dân an, cầu cho Chính quyền sớm nhận ra sự thật, bảo vệ lợi ích của người dân thì người dân sẽ bảo vệ - như lời của Cha F.x Hoàng Sỹ Hướng đã phát biểu trong lễ mừng quan thầy Giáo phận Vinh 15/08/2016 vừa qua tại giáo đô Xã Đoài. 

Vậy nên, để không mắc mưu Việt Tân, không biến tôn giáo (trong đó có đạo Công giáo) tiến tới đối đầu, không đội trời chung với chính quyền thì tốt hơn hết chúng ta cần nhận diện và suy xét kỹ lưỡng trước khi lan truyền, đăng tải nó. Ở Việt Nam, quyền tự do tiếp cận thông tin, quyền tự do ngôn luận khi mà internet phát triển vũ bão, mỗi một công dân - một người dùng mạng cần kiểm chứng, thông tin đa chiều trước những sự kiện, vấn đề trong và ngoài nước, đặc biệt trên các trang mạng không chính thống, mạng xã hội facebook, twiter...

An Chiến

Proudly Powered by Blogger.